Linh dương lam (Hippotragus leucophaeus), hay còn có tên tiếng tên Anh là Bluebuck, là một loài linh dương châu Phi đã tuyệt chủng vào đầu thế kỷ 19 do sự săn bắn quá mức của con người. Loài linh dương này có họ hàng gần với linh dương lang (Hippotragus equinus) và linh dương đen Đông Phi (Hippotragus niger), nhưng có cơ thể nhỏ hơn và mảnh khảnh hơn hai loài họ hàng trên. Chúng từng phân bố ở phía Tây Nam các đồng cỏ xavan ở Nam Phi.
Linh dương lam có chiều dài cơ thể là 2.5-3 m ở con đực, và 2.3-2.8 m ở con cái. Chiều cao tới vai của chúng là khoảng 1-1.2 m và đều có cân nặng tối đa là 160 kg. Hộp sọ chúng dài khoảng 396 mm, còn bộ sừng thì dài khoảng 0.5-0.6 m. Giống như hầu hết các loài linh dương, linh dương lam có mõm dài và sáu răng dọc theo má trong mỗi mặt hàm trên và dưới, chúng được nói là một loài ăn cỏ chọn lọc và ưa thích loại cỏ chất lượng cao như cỏ đỏ chất lượng cao (Themeda triandra) hay cỏ ngọn giáo (Heteropogon contortus)… Không giống như hầu hết các loài linh dương khác, chúng không thích ăn cỏ tươi, ngoại trừ trong mùa khô và cũng có thể ăn cả chồi non vào những thời điểm khan hiếm thức ăn. Loài này có chiếc cổ tương đối dài và khỏe với chiếc bờm ngắn và không phát triển mấy. Bốn chân dài màu trắng với dải màu tối phía trước, đuôi dài đến khuỷu chân sau, với một chỏm đuôi tối màu giống của ngựa. Lỗ tai chúng dài giống như loài lừa, có dạng hẹp và nhọn ở đỉnh, có màu hung đỏ và không có búi lông đen như của linh dương lang. Lông trên cơ thể ngắn, bóng loáng.
Dù mang tên là linh dương lam nhưng thật ra bộ lông của chúng không hề có màu xanh hoàn toàn do không hề có mẫu vật nào trong số các mẫu vật còn lưu trữ trong các bảo tàng cho thấy chúng có màu xanh lam trên lông, màu sắc đó có thể bắt nguồn từ một hỗn hợp lông màu đen và vàng. Đó có thể là do màu lông sẫm trên phần lông mỏng của các cá thể linh dương già, hoặc là do sự trộn lẫn giữa hai phần lông đen và vàng, hai màu này trên lông con vật có thể tạo ra sắc xanh lam theo một số nhân chứng mô tả, có thể là màu xanh lam sáng nhẹ đến xám và nhanh chóng nhạt dần sang màu xám hơi xanh sau khi chết.
Linh dương lam là một loài linh dương lớn có cân nặng bằng một con ngựa trung bình, nhưng lại nhỏ hơn so với linh dương lang hay linh dương đen Đông Phi. Sừng chúng dài có hình cong, gắn trực tiếp trên viền mép mắt và có nhiều nếp gấp, với 20-35 vòng lên đến đỉnh sừng, ít hơn khi so với linh dương lang (20-50 vòng). Chúng từng là con mồi của các loài động vật ăn thịt như linh cẩu đốm (Crocuta crocuta), báo hoa mai (Panthera pardus) và chó hoang châu Phi (Lycaon pictus), tuy nhiên những con đực với cặp sừng dài và nhọn thường hung hăng hơn những loài linh dương khác và sẽ không ngại phải đối mặt với những kẻ thù, kể cả loài to lớn như sư tử.
Trong quá khứ, loài linh dương này từng phân bố rộng rãi vào đầu thế Toàn Tân cách đây 10,000 năm. Loài này cũng được cho là từng cư trú ở những nơi có độ cao lớn, có khi lên đến 2,400 m so với mực nước biển. Chúng không thích các khu vực có cỏ ngắn và đất trồng cây, nơi hình thành tán cây dày hoặc cây bụi. Việc phải thay đổi môi trường sống do các đồng cỏ chăn thả các loài gia súc quá mức, chẳng hạn như cừu, đã dần đe dọa loài này. Khi đến khai hoang châu Phi vào thế kỷ 17, những người da trắng đến từ châu Âu đã từng săn loài này để lấy thịt vì số lượng loài này lúc đó bị giới hạn trong một khu vực đồng cỏ rộng dưới 4,000 km vuông tại vùng tam giác hình thành bởi các thị trấn Caledon, Swellendam và Bredasdorp ở Nam Phi, nhưng họ nhận ra rằng thịt của loài linh dương này rất khó ăn, nên dần họ không tiếp tục săn chúng để lấy thức ăn nữa mà lại xem việc săn bắn chúng như là thú vui và lấy bộ da.
Nhà tự nhiên học người Thụy Điển, Carl Peter Thunberg từng ghi nhận vào năm 1774, loài vật này đã bắt đầu trở nên hiếm hoi. Các thợ săn và nông dân châu Âu săn bắt chúng chủ yếu để lấy bộ da. Thịt chúng không béo, nạc quá nhiều, khó ăn, chỉ để làm thức ăn cho chó. Cùng lúc đó, việc canh tác của con người cũng dần thu hẹp môi trường sống của chúng và cuối cùng đã khiến chúng gần như là bị tuyệt chủng trong tự nhiên vào năm 1800 khi con linh dương lam cuối cùng trong tự nhiên tại Cape Province đã bị giết trong tầm năm 1799-1800 ở quận Swellendam. Tuy nhiên, vài bằng chứng khi đó cho thấy vẫn còn một quần thể nhỏ bị cô lập tồn tại ở phía Bắc trong thế kỷ 18, và cá thể linh dương lam cuối cùng đã chết ở phía Đông Free State hơn 50 năm sau đó.
Hiện nay, có bốn bộ da linh dương lam đang được trưng bày tại các Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia ở Leiden (Hà Lan), Stockholm (Thụy Điển), Paris (Pháp) và Vienna (Áo).
