Cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Hoa Kì ở Okinawa diễn ra cùng lúc với thời kì giãy chết của Đế chế thứ III ở Đức. Trong lúc bá tước Bernadotte đang đóng vai trò con thoi giữa các thủ đô châu Âu để thăm dò khả năng mưu tìm hòa bình cho chế độ Quốc xã theo yêu cầu của trùm Gestapo là ReichMarshal Himmler, thì nhiều người Thụy Điển khác cũng đóng vai trò tương tự cho Nhật. Đại sứ Thụy Điển tại Tokyo Wider Bagge được Ngoại trưởng Nhật Mamoru Shigemitsu (thời Thủ tướng Koiso) nhờ làm trung gian chính thức ở giữa Nhật và Hoa Kì. Nhưng cho đến khi nội các Koiso đổ, thì tân Bộ trưởng Ngoại giao Togo cho rằng Nhật chỉ nên tìm hòa bình qua ngả Liên Xô.
Nhưng giới tư bản tài phiệt Nhật cũng có đường lối của họ. Như ta đã thấy, suốt thời kì chiến tranh nước Nhật do hai con ngựa “quân phiệt” và “tài phiệt” lôi kéo. Nó đưa nước Nhật càng ngày càng đến gần bờ vực thẳm. Giờ đây phe tài phiệt muốn tìm đường cứu vãn phần nào hay phần ấy. Vì vậy người của họ ở Thụy Sĩ tìm mọi cách để tiếp cận với các giới Hoa Kì có vai vế. Eric Erikson, đại diện cho một công ty hàng hải Thụy Điển, có những mối quan hệ làm ăn với phe tài phiệt Nhật, tiếp xúc với Hoàng thân Carl Bernadotte và đóng vai liên lạc cho tùy viên quân sự Nhật ở Stockholm. Những bước đầu này không được Tokyo đồng ý cho lắm ,nhưng cũng không cấm đoán hẳn.
Ở Thuy Sĩ, 3 người Nhật tìm cách móc nối với Allen Dulles, đại diện cho cơ quan OSS (Tiền thân CIA). Người đầu là trung tá Yoshoro Fujimura, tùy viên hải quân của Sứ quán Nhật ở Berne. Người thứ hai là Shigeyoshi Tsuyama, đại diện cho công ty hàng hải Osaka ở châu Âu. Người thứ ba là Shintaro Ryu, đặc phái viên châu Âu của tờ Asahi Shimbun.
Qua máy mật mã của Sứ quán, họ liên lạc trực tiếp và kín đáo với Nhật Bản qua Phòng mật mã của Bộ Tư lệnh Hải quân Tokyo. Và qua trung gian là tiến sĩ Fritz Mack (người Đức) họ móc nối được với Allen Dulles. Ông này thông báo cho phía Nhật biết là Đức đã đầu hàng, vậy Nhật nên “lo tính” đi trước khi quá muộn. Lúc ấy, sự thay đổi nội các ở Nhật và sự cần thiết về “bí mật” khiến cho công việc mưu tìm hòa bình ở Thụy Sĩ không xúc tiến liên tục được. Vả lại, tâm lí chung của đại đa số quân phiệt Nhật là đánh đến cùng.
Khi bản báo cáo “Tình hình sản xuất” được trình lên Thủ tướng mới là Suzuki thì nhiều người mới thấy rõ: nước Nhật đã đi đến bước đường cùng. Giới Lục quân giờ đây thấy rằng, trong việc mưu tìm hòa bình, chỉ có thể tin cậy ở Liên Xô trong vai trò môi giới, Tướng Umezu, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Korechika Anami, Bộ trưởng Quốc phòng đề nghị nên theo con đường này để xúc tiến, dò hỏi. Nhưng Ngoại trưởng Togo thì cho rằng: sau khi thắng Đức thế nào người Nga cũng nhảy vào vòng chiến chống Nhật. Và khi Nhật nhờ họ mưu hòa, họ sẽ đòi hỏi những giá đắt ở Mãn Châu, Lữ Thuận, Đại Liên. Vậy Nhật có thể “trả giá” ấy không ?
Nhưng cuối cùng, chính phủ Nhật cũng ra lệnh cho nhà ngoại giao Nhật Koki Hirota tiếp xúc với Đại sứ Liên Xô ở Nhật Bản là Yakov Malik. Trước hết, Hirota đề nghị với Malik là xin Liên Xô bỏ quyết định “Không gia hạn Hiệp định trung lập Nga – Nhật”(Vốn sắp mãn hạn). Hirota nói: “Thực là một điều may là Nhật – Nga chưa bắn nhau”. Và yêu cầu Malik điện về Moskva, nhờ làm trung gian mưu hòa. Đại sứ Malik trả lời là cần phải vài ngày mới có tin tức.
Vào ngày hôm sau, 6-6-1945, Ngoại trưởng Togo đem đến Hội đồng chính phủ bản “Tuyến cáo của Bộ Tổng tham mưu” tinh thần vẫn là: “đánh đến cùng”. Ông ta hỏi giới quân sự: “Ý định thực sự của các ông là sao? Các ông có thấy các ông khôi hài không, khi nêu ra rằng chiến tranh càng đến gần Nhật Bản thì ta càng dễ thắng lợi hơn? Các ông có nghe người dân họ nói gì không?”. Ngày 8-6, một cuộc họp được triệu tập tại tòa nhà “Nội chính đường” trong Hoàng cung. Năm bộ trưởng quan trọng nhất (Quốc phòng, Hải quân, Ngoại giao, Nội vụ, Kinh tế), thêm Hoàng thân Hiranuma, chủ tịch Hội đồng cơ mật dự họp. Thiên hoàng ngồi nghe Bộ trưởng ngoại giao thuyết trình về những đòi hỏi của Anh, Mĩ liên quan đến vấn đề chấm dứt chiến tranh, Cuộc họp vẫn không đi đến một kết quả nào, nhưng dù sao vẫn là một bước tiến, vì đây là lần đầu tiên người ta nói đến chữ “nghị hòa”.
Vài hôm sau, Hoàng thân Chưởng ấn Kido đệ trình lên Nhật hoàng bản “Tóm tắt tình hình”. Sau khi cho thấy tổng số nhà cửa ở Tokyo và các thành phố lớn bị Mỹ ném bom san bằng gần 70%, sự sản xuất lương thực gần như kiệt quệ, dân chúng đến gần sự đói kém, những cảnh ấy đưa đến những luồng sóng ngầm trong dân chúng, bản “Tóm tắt tình hình” dẫn đến các kết luận:
– Nước Nhật cần tìm ra một giải pháp cho hòa bình, trước khi quá muộn.
– Phe Đồng minh chỉ chĩa mũi dùi vào phe quân sự. Mục đích của họ dường như chỉ là muốn phá vỡ tổ chức quân phiệt (Gumbatsu).
– Thiên hoàng nên có một thông tri đặc biệt, đánh tiếng với Đồng minh, kêu gọi một sự nghị hòa chứ không phải là đầu hàng vô điều kiện. Nhưng đồng thời cũng cho họ biết là nước Nhật sẵn sàng chấp nhận một sự hạn chế vũ trang.
Bản đề nghị này được Thiên hoàng ngự lãm và đồng ý. Hoàng thân Kido bèn tiếp cận với các thành phần nòng cốt của chính phủ. Sáu vị bộ trưởng và cả Thủ tướng được hỏi ý kiến đều không phản đối. Riêng tướng Anami, Bộ trưởng Quốc phòng thì đồng ý trên nguyên tắc nhưng không đồng ý xúc tiến ngay. Ông ta cho rằng, hãy để cho Hoa Kì đổ bộ lên bãi biển đất nước ta, họ sẽ bị tiêu diệt gần triệu người, khi đó ta sẽ đưa ra đề nghị “hòa”.
Hoàng thân Kido hỏi lại:
– Sau khi Mĩ đổ quân, ông sử dụng hết vốn liếng không quân, lục quân của ông để diệt họ. Ví dụ có diệt được 2/3 đi nữa, ông còn gì để mặc cả?
Tướng Anami ngẩn người ra, đoạn nói:
Tôi đồng ý với Hoàng thân, ông có lí nhưng đối với phe quân nhân chúng tôi, đó là vấn đề sĩ diện. Tuy nhiên, tại cuộc họp sắp đến tôi không phản ứng mạnh đâu.
Do đó, ngày 26-6, theo đề nghị của Hoàng thân Chưởng ấn, Nhật hoàng triệu tập một buổi họp của Hội đồng Quốc phòng tối cao. Thiên hoàng mở đầu hội nghị:
– Hôm nay, các khanh đến đây không phải để nghe chỉ dụ, nhưng trẫm muốn các khanh hãy nghiên cứu xem, mình nên bước như thế nào để tiến tới nghị hòa?
Các viên chức trong Hội đồng chiến tranh đều được tiếp xúc trước nên họ không ngạc nhiên lắm, chỉ có Tổng Tham mưu trưởng Umezu và Bộ trưởng Hải quân Toyoda là tỏ vẻ bối rối vì Hoàng thân Kido chưa nói trước với họ. Tướng Umezu nói:
– Vấn đề mưu tìm “nghị hòa” phải được xúc tiến một cách khéo léo cao độ. Nếu không, sẽ là tai họa lớn đối với tâm lí quân nhân đang chiến đấu và phe Đồng minh thấy Nhật kém quyết tâm.
Thiên hoàng hỏi:
– Vậy theo ý tướng quân, chữ “khéo léo cao độ” có nghĩa là đợi ta vả vào mặt Đồng minh đổ bộ một cái tát choáng váng, rồi mới đề ra “nghị hòa” phải không ? (Thâm đấy : /)
Tướng Umezu đáp lại:
– Tầu Hoàng thượng, thần muốn nói: cẩn thận là hơn, nhưng nếu quá cẩn thận thì bỏ lỡ cơ hội, còn nếu quá sớm thì dễ gây hiểu lầm.
Nhật hoàng:
– Vậy chúng ta nên bắt đầu ngay đi.
Ngày 24-6, nhà ngoại giao Hirota đến tìm gặp Đại sứ Liên Xô tại Nhật Bản một lần nữa, hỏi ông này về việc Liên Xô có sẵn sàng đứng làm trung gian hòa giải không. Đại sứ Malik trả lời là chưa nhận được tin từ Moskva. Hirota đưa ra lời đề nghị: Nhật Bản sẽ nhượng cho Liên Xô cao su, chì, thiếc, vonfram, ngược lại Liên Xô bán cho Nhật dầu mỏ. Ngoài ra, với lục quân Liên Xô bách chiến bách thắng, hợp lại với hải quân Nhật sẽ thành một liên minh vô địch chống Mĩ – Anh (À thế cơ à). Đây là một lời đề nghị khá khôi hài. Giới quân phiệt Nhật đã quen gạt gẫm thiên hạ, nay lại muốn bán một món hàng không có trong tay. Như nhiều chính khách khác, Đại sứ Malik cũng đã biết “Hạm đội vô địch” của Nhật Bản giờ đây đã nằm gọn dưới đáy đại dương bởi chính người Mĩ.
Trong lúc đó, tại Bale (Thụy Sĩ) một cuộc thương lượng khác cũng được tiến hành. Qua trung gian của Per Jacobson, Tổng Giám đốc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Bale, hai nhà ngân hàng Nhật Bản Kitamura và Yoshimura liên lạc được với một tình báo Mĩ có hạng là Gero von Schulze Gaevernitz (người Mỹ gốc quý tộc Đức). Qua cuộc họp kín, người này bảo rằng: “Ý muốn của Hoa Kì vẫn là duy trì Hoàng gia. Vì vậy nên Hoa Kì không hề bỏ bom Hoàng cung Tokyo. Các ông nên đầu hàng vô điều kiện, thì còn có thể giữ một chút gì đó, Vì chúng tôi quan niệm đầu hàng vô điều kiện chỉ theo nghĩa hoàn toàn quân sự mà thôi. Ví như trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất, nước Đức đầu hàng vô điều kiện nhưng họ vẫn còn một chính phủ của họ. Còn nếu các ông chờ đợi nữa, sẽ chung số phận với nước Đức của H***r, nghĩa là không còn một chính phủ nữa”.
Phía Nhật hỏi lại:
– Các ông có thể viết lại thành văn bản những điều vừa đề cập hay không?
Người Mĩ nói:
– Tin hay không là quyền của các ông, trong lối làm việc của chúng ta, không ai làm văn bản hết.
Hai hôm sau Per Jacobson đến Wiesbaden (Đức) gặp Allen Dulles (trùm tình báo Mĩ). Người này hỏi ngay:
– Theo ông, người Nhật có thành thật không hay là họ muốn chơi đòn ngầm gì đây?
Per Jacobson trả lời:
– Tôi không có những giác quan mà ngài có, nhưng tôi cũng đã từng làm trung gian hòa giải giữa De Valena và đế quốc Anh vào năm 1935 – 1937.
Đoạn ông ta nêu ra yêu cầu của Nhật là chắc chắn Hoa Ki không đụng đến Hoàng gia và đế chế của Nhật. Theo Jacobson, cái đó là chính yếu. Còn các cái khác, họ xem nhẹ như lông hồng. Jacobson nói:
– Miễn là giữ được Hoàng gia và đế chế rồi các ông bắt họ đi ngược đầu bằng hai tay từ quần đảo Indonesia về xứ họ, họ cũng làm được.
Dulles trả lời:
– Nước Mĩ dân chủ, thật khó cho chúng tôi tác động tâm lí để dân Mĩ thấy được Hoàng gia là một cái gì đó khác với quân phiệt. Nhưng nếu Hoàng đế Nhật có làm một điều gì đó có lợi cho tiến trình Nhật đầu hàng, thì chúng tôi sẽ dễ nói chuyện hơn.
Sau đó Allen Dulles điện thoại cho Tổng thống Truman đang dự hội nghị Potsdam. Nhưng khi ấy, người Mĩ biết rằng mình đã chế tạo thành công bom nguyên tử; họ cứng rắn hơn bao giờ hết trong vấn đề hòa đàm. Họ đòi hỏi “đầu hàng vô điều kiện”
