TỤC TUẪN TÁNG VÀ HIẾN TẾ NGƯỜI SỐNG TRONG SỬ VIỆT

1. Tục tuẫn táng thời Lý Nhân Tông & Lý Thần Tông 

– Thượng Dương và 76 cung nữ chôn theo Lý Thánh Tông: Tháng 1 năm Nhâm Tý (1072), vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức bấy giờ mới 6 tuổi lên nối ngôi, đó là vua Lý Nhân Tông (1072-1127). Thái tử Càn Đức là con đẻ của Ỷ Lan Nguyên phi, nay Càn Đức lên ngôi, Ỷ Lan được tôn phong là Thái phi, còn Hoàng hậu họ Dương thì được tôn phong là Thái hậu. Thái phi không được nhiếp chính nên khóc với hoàng đế và “Vua bèn sai giam Dương Thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương rồi bức phải chết, cho chôn theo lăng của Thánh Tông” (ĐVSKTT). Về số cung nữ chôn theo, Đại Việt sử lược thời Trần chép là 72 người. 

– Cung nữ tuẫn táng theo Linh Nhân: Hoàng Thái hậu Ỷ Lan qua đời, 3 cung nữ bị bắt chôn theo, trích ĐVSKTT: 

“Đinh dậu (1117), mùa thu, tháng 7, ngày 25, Ỷ Lan hoàng thái hậu băng, Hỏa táng, bắt 3 người hầu gái chôn theo.” 

– Cung nữ tuẫn táng theo Lý Nhân Tông: Việc bắt cung nữ tuẫn táng theo vua Lý Nhân Tông, trích ĐVSKTT: 

“Đinh Mùi (1127), tháng 12, ngày Ất Dậu, vua (Lý Thần Tông) bắt đầu ngự điên Thiên An coi chầu. xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở. Ngày hôm ấy vua ngự giá đi Na Ngạn xem các cung nữ lên dàn thiêu để chết theo Đại Hành Hoàng Đế”. 

2. Trần Duệ Tông hiến tế cung phi: 

Theo truyện Hải khẩu linh từ của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: 

“Quân Trần buổi xuất binh ngày ấy cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, truyền rằng trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gươm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh) (nay là Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Đoàn thuyền đành tạm neo ngay lại đấy. Bởi mặt biển thường nổi sóng cao và xoáy lốc, ngay sát bờ đã là dãy vực thẳm đầy đá nhọn, ra càng xa thì vực càng sâu, lòng biển lởm chởm hàng khối đá ngầm. 

Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Đoàn thuyền chiến nhấp nhô đập chúi vào nhau rầm rầm. Nhiều cái bị đứt dây, lao đi vùn vụt đâm vào đá vỡ toang. Quân lính lớp chết, lớp kêu la chới với. Số còn sống ai nấy đều kinh hãi nản lòng. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp. 

Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy một vị thần xưng là “Nam Minh Đô đốc”, thủ hạ của Quảng Lợi đại vương, muốn xin vua ban cho một người thiếp, nếu được như ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng để thuyền vua đi qua. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tướng và phi tần đến chỗ ngự tẩm, kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tướng chưa biết ứng đối thế nào, thì Bích Châu từ sau trướng bước ra, nói:”Việc linh ứng của thần nhân như vậy là rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân”. 

Trần Duệ Tông bàng hoàng chưa kịp phán bảo cản ngăn thì bà Bích Châu đã nhanh nhẹn quay ra thuyền lệnh: “Các quan mau mau sửa soạn lễ vật cúng thần biển, kính báo thời khắc thiếp tôi được nhà vua cử làm sứ giả đi gặp thần biển xin sóng lặng bể yên phù trợ cho vua quan, quân lính nhà Trần được chiến thắng dịp này, đem bình an về cho đất nước”. 

Bà vừa dứt tiếng thì từ nhà vua đến các quan có mặt quanh đó đều sửng sốt, nghẹn lời… Mặc hết những lời can ngăn, bà Bích Châu vẫn một mực tha thiết tâu xin cho bà có dịp được vinh hạnh phò vua, giúp quân, đền nợ nước. Không làm sao hơn, tất cả đều nén lòng nghe theo ý chí cương quyết của cung phi Bích Châu…” 

Truyện Hải khẩu linh từ nằm trong tập truyện ngắn truyền kỳ Hán văn của Hồng Hà nữ sĩ, độ xác thực không cao. 

Hiện nay, đền bà Bích Châu thuộc địa phận Tam Hải 2, Kỳ Ninh, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. 

3. Lê Thái Tổ hiến tế thứ phu nhân: 

Thái Tổ Lê Lợi không vợ, chỉ có vài bà thứ phu nhân: Trịnh Thần phi (mẹ Quận Ai Vương và bà hoàng nữ mất tích bên Minh), Phạm Huệ phi và Cung Từ Cao Hoàng hậu Phạm Thị Ngọc Trần. 

Theo Đại Việt thông sử, Hậu phi truyện: “Năm Ất Tị (1425), vua Thái Tổ vây Nghệ An, đến thành Trào Khẩu ở Hưng Nguyên, nơi này có đền thờ thần Phổ Hộ. Ban đêm nhà vua nằm mộng thấy có vị thần đến bảo rằng: “Tướng quân cho tôi một người thiếp, tôi sẽ xin phù hộ tướng quân dẹp được giặc Ngô, làm nên nghiệp đế. Nhà vua bèn đem chuyện này ra nói với các bà phi của mình, nói rằng: “Có ai chịu làm vợ thần không ? Sau này khi ta lấy được nước sẽ lập con người ấy làm thiên tử”. Ai cũng đắn đo, duy chỉ có bà khẳng khái quỳ xuống nói rằng: “Nếu minh công giữ lời hứa, thì thiếp nguyện xả thân. Ngày sau làm nên nghiệp lớn chớ phụ con của thiếp” 

Nhà vua khen ngợi và thương cảm, nói với bề tôi, hẹn ngày dâng tế lễ. Lúc đó, Nguyên Long chỉ vừa 3 tuổi, bà đưa cho người hầu cận nuôi nấng và đi theo dàn tế lễ, bà gieo mình chết, đó là ngày 24 tháng 3″. 

Đây là sử liệu duy nhất trong thời trung đại chép chuyện này. 

Nguồn: 

– Đại Việt sử ký toàn thư

– Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn

– Truyền kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm

Theo: Thoại Sử Đàm Lâu

Hình như người viết không phân biệt được tục hiến tế với hy sinh? Vụ Trần Duệ Tông với vua Lê Thái Tổ là hy sinh tự nguyện,sao gọi là hiến tế được? Hơn nữa đây cũng là 1 lần do bí bách mà sinh…sao gọi là tục? Chả lẽ từ chuyện anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo mà suy ra nước ta có tục dùng người làm chèn pháo được sao?Còn chuyện cung phi, chẳng qua là một sự trừng phạt thôi, vậy nên ngoài thời Lý Thánh Tông, triều Lý cũng không hề có vụ tuẫn táng thêm lần nào nữa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *