[THỜI ĐẠI KHAI SÁNG Ở CHÂU ÂU (P.II): DIỄN BIẾN VÀ NỀN TẢNG CỦA PHONG TRÀO KHAI SÁNG] 

Khởi đầu công cuộc Khai sáng

Đi ngược về phía trước, việc định vị điểm khởi đầu của thời đại Khai sáng tương đối phức tạp và khó đạt đến một kết luận thống nhất.

Một số sử gia lấy cuộc cách mạnh Vinh Quang tại Anh năm 1688 là điểm khởi đầu. Nhiều sử gia khác thì lấy năm 1650 như một điểm uốn lịch sử để định vị sự bắt đầu của thời đại Khai sáng.

Hai thời điểm nói trên đều hợp lý, nếu chúng ta chú trọng đến các yếu tố ảnh hưởng lên sự thay đổi thể chế chính trị tại châu Âu. Nhưng trên quan điểm khoa học, văn hóa và tư tưởng, chúng ta có thể truy tìm nguồn gốc sâu xa hơn.

Nếu trào lưu khai sáng phát triển rực rỡ kể từ cuộc cách mạng Anh năm 1688, thì biến cố lịch sử đó cũng không đến một cách ngẫu nhiên.

Đó đã là kết quả của cuộc vận động dân chủ tại Anh bắt đầu từ năm 1649, khi nhà quân chủ chuyên chế Charles I bị hành hình, quyền lực vương triều được trao vào tay nghị viện và chế độ cộng hòa bắt đầu xuất hiện trên vương quốc Anh, đây cũng là một trong những lần xuất hiện đầu tiên của chính thể cộng hòa trong lịch sử nhân loại.

Nhưng từ đâu mà ý thức dân chủ cộng hòa có thể bộc phát và có sức mạnh làm sụp đổ hệ thống quyền lực vốn đã được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước trên vương quốc Anh?

Câu trả lời thật đơn giản: Trước đó, ý thức của giới tinh hoa đương thời đã thay đổi sâu sắc, kết hợp với ý chí hành động không lay chuyển để nắm lấy vận mệnh của chính mình.

Họ bất tuân quyền lực thế tục để đòi hỏi quyền tự quyết cho bản thân. Họ từ chối thần quyền với giáo điều khe khắt và lừa bịp để chọn cho mình con đường tư duy độc lập. Họ từ chối mặc khải thần thánh, mê tín huyễn hoặc để tự đi tìm qui luật phát triển của thiên nhiên.

Bước ngoặt về nhận thức và phương pháp luận

Những thành tố đó đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 17 với một khuôn mặt nổi bật, Francis Bacon (1561-1626), người đã khai sinh nền triết học tự nhiên (natural philosophy) và thuyết kinh nghiệm luận (empirism) của thời hiện đại, được áp dụng rộng rãi cho việc nghiên cứu khoa học tự nhiên sau này.

Có hợp lý hay không khi chọn thời gian thành danh của Francis Bacon làm mốc khởi đầu của thời đại Khai sáng?

Trình độ văn minh của một xã hội không thể được đo lường đơn thuần từ của cải vật chất hoặc mức độ phồn vinh nói chung mà xã hội đó đạt được.

Mà nhất thiết phải được đánh giá bằng tinh thần sẵn sàng của các thành viên trong nỗ lực tìm tòi nghiên cứu và áp dụng những tiến bộ mới, hòng làm cho đời sống con người được tốt đẹp hơn – những tiến bộ về mặt tư tưởng cũng như trong khoa học và kỹ thuật.

Francis Bacon đã tự đặt ra mục đích cho những hoạt động tinh thần của mình là khơi dậy tính sẵn sàng nghiên cứu, chấp nhận và sử dụng các tiến bộ mới.

Trong cuộc chuyển hóa từ trật tự nông nghiệp phong kiến sang trật tự công nghiệp tiền tư bản, Francis Bacon có lẽ là triết gia đầu tiên nhận thức được tầm vóc lớn lao của cuộc chuyển hóa đó.

Gần 70 năm sau, vị tổ phụ của lý thuyết kinh tế thị trường, Adam Smith quan sát cẩn thận hơn và tóm tắt tầm quan trọng của bước chuyển tiếp giữa hai hình thái xã hội đó.

Ông “đề cập đến một cuộc chuyển hóa mang tính cách mạng, nói chính xác hơn là một cuộc đại cách mạng. […] Và thực sự chưa bao giờ trong lịch sử, đời sống con người lại được thay đổi tận gốc trong một thời gian ngắn, như trong bước chuyển tiếp từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp”.

Cũng không có gì để nghi ngờ rằng, Francis Bacon là triết gia đầu tiên nhận thức một cách sâu sắc rằng, xã hội này tất yếu sẽ cần đến sự phát triển của một nền triết học và luân lý biết hướng đến các tiến bộ về khoa học – kỹ thuật trong tương lai, vừa có mục đích lý giải và quảng bá chúng, vừa biết đặt ra những tiền đề cần thiết để giải quyết những vấn nạn do chúng gây ra.

Ngoài ra, khi nói về Khai sáng thì chúng ta cũng không thể bỏ quên René Descartes (1596-1650), trẻ hơn Francis Bacon một thế hệ, là “ông tổ đích thực của tư tưởng hiện đại, người đã đề ra yêu cầu: nhờ vào sự trợ giúp của khoa học – kỹ thuật, con người sẽ có thể trở thành chủ nhân cũng như chủ sở hữu của thiên nhiên”.

Descartes, cùng với Isaac Newton sau đó, đã có công đưa nền triết học tự nhiên đến một khúc quanh mới: Các luận điểm trong triết học tự nhiên có thể được kiểm chứng bằng các kết quả của nghiên cứu khoa học, kể cả việc sử dụng công cụ toán học và vật lý để soi sáng thêm.

Cặp bài trùng Bacon-Descartes này chính là hai vị tổ phụ của phương pháp nghiên cứu khoa học còn được sử dụng cho đến hôm nay. Bacon dùng phương pháp qui nạp để tìm chân lý, còn Descartes thì xuất phát từ những tiền đề xem ra có vẻ hiển nhiên, diễn dịch chúng để xây dựng hệ thống lý luận.

Cả hai ông đều đúng và sai. Đúng vì cả hai phương pháp đều có giá trị thực tiễn trong nghiên cứu khoa học. Sai vì không phải chỉ có một trong hai phương pháp – diễn dịch hoặc qui nạp – mới đưa đến kết luận đúng đắn.

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ngày hôm nay phải dựa vào cả hai phương pháp chứ không riêng một phương pháp nào mới có thể đưa đến kết quả.

So sánh phương pháp tư duy của Bacon và Descartes với các học giả trong thời gian trước đó, thiết tưởng cũng là điều hợp lý khi xem thời gian ở ngưỡng cửa 1600 là bước chuyển tiếp giữa hai phong thái học giả khác nhau, đánh dấu bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển tư tưởng của châu Âu, về mặt nhận thức luận cũng như phương pháp luận.

Nhận thức mới về vũ trụ và sự hoài nghi

Ngoài bước ngoặt quan trọng về phương pháp luận, thế kỷ 17 cũng đánh dấu một sự biến chuyển sâu sắc trong nhận thức con người về vũ trụ, và gắn liền với nó là sự nghi ngờ những điều được ghi chép trong Thánh kinh và giáo lý Kitô, làm giảm sút niềm tin về sự đúng đắn của triết lý thần học.

Nhờ thế, hệ tư tưởng châu Âu bước vào một thời đại mới với nhiều tư duy và sáng kiến lấy con người làm trung tâm, những người biết độc lập suy luận thay vì tin tưởng, phụ thuộc vào mặc khải thần thánh và giáo lý Kitô.

Kể từ thế kỷ thứ tư trước CN, Aristotle diễn tả vũ trụ là một hệ thống bao gồm nhiều hành tinh quay quanh quả đất trên quĩ đạo hình tròn của chúng với trục quay là trung tâm địa cầu.

Giả thuyết này được Claudius Ptolemy (100-160 sau CN) khai triển thêm, hệ thống hóa và diễn giải trong tác phẩm của ông, sau đó đã trở thành sách kinh điển của ngành thiên văn học suốt hơn 1.500 năm.

Vũ trụ quan này phù hợp với những quan sát thường nhật và phù hợp với Thánh kinh, nên các học giả của Giáo hội Kitô, kể từ thế kỷ thứ tư sau CN, tiếp nhận và cương quyết bảo vệ vũ trụ quan nhật tâm (geocentric), vốn dĩ đã trở thành tư tưởng cốt lõi của triết lý thần học.

Lúc ấy, người ta quả quyết rằng, trái đất là trung tâm của vũ trụ, trong đó vị trí của con người, vốn dĩ do Đấng Sáng Tạo sinh ra, được xác định rõ ràng.

Bên ngoài quả đất là Trời, là Thiên Đường, là thế giới của Thượng Đế và thánh thần, nơi mà sau khi chết, con người có thể đạt đến cuộc sống vĩnh cửu đầy hạnh phúc nếu trong lúc còn sống, họ hội đủ những tiêu chí được định ra bởi giáo lý thần học.

Hệ tư tưởng này chi phối châu Âu suốt một thời gian dài cho đến thế kỷ 16, tuyệt đối không có một luồng tư tưởng thứ hai nào khả dĩ có sức thuyết phục cao để cạnh tranh và phản bác lại được.

Vì thế, học giả châu Âu không có một tiêu chí nào khác để so sánh, ngoại trừ những truyền thống phổ biến trong xã hội họ đang sống, hoặc cùng lắm là trở về với thế giới cổ đại, mà tự nó là biểu tượng đã có tính khuôn mẫu.

Mãi cho đến đầu thế kỷ 16, Nicolaus Copernicus – một người Ba Lan, bắt đầu đưa ra những quan sát mới về sự chuyển động các hành tinh lấy mặt trời làm trung tâm.

Vũ trụ quan nhật tâm này (heliocentric) được chính thức công bố trong tác phẩm kinh điển của Copernicus vào năm 1543, và được chấp nhận ngày càng rộng rãi trong giới nghiên cứu khoa học nói riêng và giới học giả nói chung. Người ta gọi biến cố này là cuộc cách mạng Copernicus trong ngành thiên văn học.

Sau đó, Johannes Kepler tính toán một cách chính xác sự chuyển động các hành tinh bằng mô hình toán học. Theo Kepler, quĩ đạo chuyển động của quả đất chung quanh mặt trời không phải là hình tròn, mà có dạng bầu dục (ellipse).

Song song, Galileo Galilei kiểm chứng bằng những quan sát và đo đạc qua kính viễn vọng do chính ông sáng chế. Cuối cùng, Isaac Newton phát hiện lực ly tâm và củng cố thuyết nhật tâm bằng các định luật vật lý.

Bốn vị học giả hàng đầu này – Copernicus, Kepler, Galilei và Newton – đã làm cuộc cách mạng Copernicus trở nên hấp dẫn và đáng tin cậy hơn.

Vì lý thuyết của ông giờ đây đã được kiểm chứng bằng quan sát thực tế cũng như qua phương pháp toán học và vật lý, nên nó được chấp nhận càng ngày càng rộng rãi trong giới học giả.

Trong bối cảnh thế kỷ 17, thuyết nhật tâm có giá trị còn cao hơn cả là một tư tưởng cách mạng trong khoa học.

Một mặt, nó đối lập với thuyết địa tâm sai lạc vốn đã ăn sâu bám rễ tại châu Âu trong suốt gần hai ngàn năm. Mặt khác, quan trọng hơn, nó đặt ra nhiều câu hỏi căn cơ liên quan đến Thánh Kinh, đến giáo lý thần học, đến chủ nghĩa kinh viện, đến nền triết học được quảng bá trong các tu viện và trường đại học.

Sự hoài nghi này làm cho niềm tin vào các giá trị truyền thống giảm sút.

Trong lúc sự chống đối của Giáo hội và các học giả thần học bảo thủ ngày càng mạnh, thì xung đột nội tâm của học giả theo xu hướng hiện đại ngày càng gay gắt hơn. Quá trình cọ xát tư tưởng này tất yếu đã làm cho niềm tin vào triết lý thần học và các định chế tôn giáo giảm sút nặng nề. Từ đó, xu hướng ly khai về mặt tư tưởng đã bắt đầu xuất hiện.

Nếu không có sự cương quyết thoát ly khỏi sự gò bó tư tưởng trong thế kỷ 17, thì các nhà tư tưởng hàng đầu của thế kỷ 18 cũng chưa chắc đã có những phát kiến độc đáo như chúng ta thấy trong trào lưu Khai sáng.

Trong suốt thế kỷ 17, truyền thống cổ điển ngày càng bị xói mòn bởi những tri thức mới thu lượm được và phương cách con người nhìn vào các kinh nghiệm khiến họ trước hết phải nghi ngờ.

Rồi dần tiến đến niềm lạc quan chưa từng có tiền lệ về việc nhận thức được bản chất con người, cũng như năng lực điều khiển môi trường xã hội chung quanh để phục vụ cho bản thân họ.

Cuộc cách mạng Copernicus có sức mạnh như một thanh trường kiếm bén nhọn, trong cuộc thánh chiến của khoa học nhằm chống lại những mê tín và mù quáng.

Thành quả của thời đại Khai sáng

Tóm lại, ta có thể nói rằng trào lưu Khai sáng đã đánh dấu sự cáo chung của chế độ phong kiến với cao điểm là hai cuộc cách mạng ở Mỹ và Pháp, để chuẩn bị bước sang chủ nghĩa tư bản bắt đầu từ thế kỷ 19 với các định chế chính trị dân chủ xuất hiện trên khắp lục địa.

Nếu trong lúc mọi nơi khác trên thế giới còn đang phải sống dưới chế độ phong kiến, hoặc có nơi vẫn còn giữ hình thái xã hội bộ lạc.

Thì trái lại, hầu hết các nước châu Âu và Bắc Mỹ đều đã bắt đầu xây dựng thể chế chính trị dựa trên nguyên tắc công pháp và phân quyền, với hiến pháp qui định nhiệm vụ bảo vệ các quyền tự do căn bản cho mọi công dân.

Đây là thành quả lớn lao của trào lưu Khai sáng trong thế kỷ 18, làm bàn đạp cho những thay đổi xã hội châu Âu và Bắc Mỹ trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn chương, triết học.

Nhưng xét cho cùng, các thành quả của thế kỷ 18 cũng chỉ là bước tiến tất yếu của quá trình vận động Khai sáng vốn đã bắt đầu từ thế kỷ 17, được xem như là gốc rễ, và cũng là xung lực cho những thành tựu về sau.

Nhưng điều gì đã làm cho thế kỷ 17 quan trọng đến thế? Câu trả lời thật rõ ràng: Là con người! Là tư duy tự do và ý chí hành động của lớp trí thức mới mà chúng ta chưa bao giờ tìm thấy trong lịch sử châu Âu suốt 2.000 năm trước đó.

Có lẽ cũng là điều cần thiết, nếu chúng ta dừng lại đôi chút để phân tích nguyên nhân nào mà lịch sử có thể tạo nên những con người đặc biệt của thế kỷ 17, từ thái độ thuần phục giáo điều ý thức hệ và cường quyền, bỗng chốc lại trở thành những con người tự chủ, làm động lực cho trào lưu Khai sáng phát triển rực rỡ, đưa cả lục địa thoát khỏi tình trạng lạc hậu trung cổ?

Những yếu tố tạo nên con người tiền Khai sáng

Để truy tìm nguyên do, chúng ta cần trở lại lịch sử 200 năm trước đó để khảo sát tình hình các hoạt động văn hóa và tư tưởng, sự thay đổi cấu trúc kinh tế và hoạt động thương mại, sự đảo lộn căn cơ về cấu trúc xã hội, sự thành hình tầng lớp trung lưu trí thức mới, các hoạt động nghiên cứu khoa học tự nhiên v.v…

(1) Đợt “di tản văn hóa” từ Đông sang Tây

Năm 1453, đế chế Ottoman chiếm kinh đô Contantinople thuộc Byzantine (tên gọi mới của đế chế Đông La Mã) chấm dứt đế chế hùng mạnh nhất vốn đã tồn tại suốt gần 2.000 năm.

Biến cố này đã tạo nên một làn sóng di tản với qui mô lớn chưa từng thấy, mà đông đảo nhất là giới thương gia thành đạt và tầng lớp học giả có ít nhiều gắn bó với nền văn minh Hy Lạp xưa.

Họ vượt eo biển Adriatic để đến Trung và Nam Ý, hoặc đi đường bộ xuyên vùng Balcan để đến Áo và các cộng hòa giàu có ở Bắc Ý như Venice, Bologna, Milan, Florence; một số khác vượt rặng núi Alps để đến các nước ở phía bắc lục địa.

Thương gia mang theo tài sản cùng kỹ năng quản lý và kinh doanh, nhưng quan trọng hơn là giới học giả đã mang theo tri thức và rất nhiều sách vở, tài liệu thuộc văn hóa Hy Lạp và La Mã, từ nguồn tư nhân cũng như từ các thư viện lớn của đế chế Byzantine.

Hầu hết các sách kinh điển của những tác giả thời cổ đại trước Công Nguyên vốn được viết bằng ngôn ngữ cổ Hy Lạp, được bảo tồn ở Đông La Mã và khu vực Ả Rập (bao gồm Tiểu Á, Bắc Phi), giờ đây, trong vòng vài năm sau khi Constantinople thất thủ thì đã được dồn về các nước Tây Âu.

Đây là một biến cố lịch sử có một không hai: Dù đế chế Ottoman chiếm được toàn bộ Đông Âu và Ả Rập, nhưng nền văn minh Hồi giáo đã mất đi di sản văn hóa vô giá vào Tây Âu, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi hai nền văn minh Đông – Tây chính thức rẽ sang hai con đường phát triển khác nhau cho đến tận bây giờ. Vốn là một tình cờ lịch sử hay do số phận đã được định trước?

Làn sóng di tản xảy ra đúng vào lúc các nước cộng hòa của Ý đang trong thời kỳ hưng thịnh, được cai trị bởi những gia tộc giàu có và ưa thích văn hóa, thí dụ như gia tộc Medici giàu nhất nước Ý đã xây dựng một triều đại kéo dài hơn hai thế kỷ ở cộng hòa Florence, chiếc nôi của nền văn hóa Phục hưng.

Họ không tiếc tiền săn lùng để mua cho bằng được những tác phẩm kinh điển thời cổ đại, xây dựng nhiều thư viện công cộng, bảo trợ các công trình nghệ thuật tạo hình và kiến trúc Phục hưng, đồng thời bỏ tiền nuôi dưỡng các học giả nổi danh trốn chạy từ Byzantine.

Chỉ trong vòng vài thập niên, các học giả Tây Âu, đặc biệt là ở Ý, đã có thể tiếp cận nhiều tri thức quan trọng của nền văn minh Hy Lạp và La Mã, vốn bị bỏ quên và chôn vùi trong suốt gần 2.000 năm. Ý đã trở thành thánh địa văn hóa cho các học giả từ khắp lục địa đến hành hương và tham quan học hỏi.

Đợt di tản văn hóa này đã làm cho kho tàng tư tưởng của Tây Âu phát triển thêm một bước nhảy vọt cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần thúc đẩy và hoàn thiện trào lưu Phục hưng, với nội dung chính là hồi sinh những giá trị truyền thống thời cổ đại.

Nếu như “thời kỳ Phục hưng tỏ ra là một khoảnh khắc đặc biệt trong số phận con người của xứ hoàng hôn, là tuyên ngôn mặc khải của người thế tục, là thời khắc sinh thành của thế giới hiện đại”, thì đợt di tản văn hóa thế kỷ 15 có thể xem là những dòng sữa mẹ đầu tiên nuôi dưỡng nền văn minh hiện đại châu Âu.

Nếu không có đợt chuyển dịch văn hóa, có lẽ Phục hưng khó trở thành một trào lưu với nhiều hào quang như chúng ta thấy. Và nếu không có phong trào Phục hưng, chắc hẳn trào lưu Khai sáng trong vòng hai thế kỷ sau đó chỉ có thể xảy ra với một mức độ trì hoãn nhất định.

Tuy là gốc rễ của của nền văn minh hiện đại nhưng trào lưu Phục hưng vẫn để lại hai công trình dang dở mà phải nhờ con người của thời đại Khai sáng sau này hoàn tất.

  • Thứ nhất, trào lưu Phục hưng làm hồi sinh những giá trị truyền thống thời cổ đại, nhưng con người Phục hưng cũng chưa có sáng kiến gì mới mẻ vượt ra khỏi hệ tư tưởng cổ điển.

Người Phục hưng tuy phê phán giáo hội nhưng vẫn còn thuần phục các giáo điều huyễn hoặc chứ chưa hoài nghi, lại càng chưa ly khai khỏi ý thức hệ tôn giáo như con người Khai sáng thời sau này đạt được.

  • Thứ hai, văn hóa Phục hưng chỉ mới thuyết phục và truyền bá trong giới học giả, chứ chưa trở thành một trào lưu đại chúng, chưa tạo được ý thức chính trị sống động trong đám đông nhân dân, một tiền đề quan trọng để cải tạo xã hội nhằm phá vỡ trật tự cũ và xây dựng cái mới.

Tuy nhiên, dù chưa phải là một trào lưu hoàn mỹ, nhưng ý thức Phục hưng đã xây dựng nền tảng về văn hóa xã hội để chủ nghĩa nhân bản phát triển, vốn dĩ là luồng tư tưởng xuất phát từ ý thức trở về với văn hóa cổ đại trước Công nguyên.

Cho nên, ít nhiều thì những luồng tư tưởng đó vẫn mang sẵn tư duy đa dạng, bao gồm cả đa thần, vô thần, dị giáo, vì thế tự nó đã có phần xung khắc với văn hóa Kitô.

Chủ nghĩa mới mẻ này chứa đựng nhiều thành tố đặc biệt, thí dụ như tính chất hấp dẫn của phong thái hoàn mỹ trong văn chương nghệ thuật, mối quan tâm sâu sắc đến từng cá thể, sự tôn vinh các giá trị văn chương và giáo dục truyền thống cổ đại.

Trước những thành tố đặc thù đó, hệ thống triết lý thần học khô khan khó lòng đứng vững để cạnh tranh.

Học giả thời Phục hưng trong một sớm một chiều đã tiếp nhận được nhiều điều hay lẽ phải vốn đã bị chôn vùi từ lâu. Từ tình trạng bị bưng bít và chỉ biết có một ý thức hệ duy nhất, họ sớm nhận thức ra những chân lý mới mẻ vừa được khám phá.

Nếu xem văn minh châu Âu được định nghĩa dựa trên tiêu chuẩn văn hóa, thì làn sóng di tản văn hóa từ Đông sang Tây ở hậu bán thế kỷ 15 – và gắn liền với nó là sự thành hình con người Phục hưng với chủ nghĩa nhân bản – là bước ngoặt quan trọng cho việc hình thành con người Khai sáng ở thế kỷ 17 và 18.

(2) Sức mạnh của kỹ thuật in ấn và xuất bản

Với óc tò mò, lòng kiên nhẫn và quyết tâm cao độ để thay đổi cuộc đời, vào đầu thập niên 1450, Johannes Gutenberg người Đức đã phát minh một kỹ thuật in ấn hoàn hảo. Phát minh của ông bao gồm bốn thành tố.

  • Thứ nhất, các chữ cái được đúc hàng loạt và có thể uyển chuyển sắp xếp với nhau thành câu chữ, dù bằng tiếng la-tinh hay bất kỳ ngôn ngữ địa phương nào ở châu Âu.

Những ai đã tham quan phòng sắp chữ của một nhà in trong thập niên 1960 có thể hiểu được nguyên tắc mà Gutenberg sáng chế trước đó 500 năm vẫn còn được áp dụng, không có gì thay đổi.

  • Thứ hai, với kiến thức về luyện kim, Gutenberg khám phá công thức pha chế một hợp chất bao gồm chì, kẽm và an-ti-môn để có thể dễ dàng đúc ra những ký tự vô cùng sắc sảo.
  • Thứ ba, với sự khéo léo của nghệ nhân và tính chính xác của kỹ sư cơ khí, ông thiết kế một máy ép bản in với vật liệu thô sơ, đầu tiên bằng gỗ và phiên bản cuối cùng bằng kim loại.
  • Thứ tư, sau một thời gian dài thử nghiệm nhiều công thức hóa học khác nhau, Gutenberg cuối cùng đã khám phá một loại mực in được pha chế với dầu và có thể bảo đảm không nhòe, không phai màu dù in trên giấy hay các vật liệu khác.

Khám phá của Gutenberg không chỉ là một phát minh mang ý nghĩa kỹ thuật, mà nó đã nhanh chóng khởi động một cuộc cách mạng truyền thông đại chúng trên khắp lục địa, với những ngành chuyên môn trước đó vốn chưa được phát triển rộng rãi, như ngành in ấn, ngành xuất bản và tiếp thị sách báo.

Chỉ chưa đầy 50 năm, các nhà in biết sử dụng phương pháp Gutenberg đã mọc lên nhanh chóng ở các thành phố châu Âu: ở Đức có khoảng 300 nhà in trong 60 thành phố lớn, ở Ý trong 30 thành phố, ở Thụy Sĩ 15, ở Pháp 20. Ngành in ấn ở Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bắc Âu v.v… cũng phát triển tương tự.

Ở ngưỡng cửa năm 1500, số lượng sách in ấn trên khắp lục địa đã vượt quá chín triệu bản, một con số khổng lồ vào lúc đó, so với dân số châu Âu chỉ trên dưới 80 triệu người.

Dưới góc nhìn đó, phát minh của Gutenberg quả là công cụ đắc lực, góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình phát triển cuộc cách mạng văn hóa và tư tưởng ở châu Âu.

Trước thế kỷ 15, sách vở phổ biến thường do những người văn hay chữ tốt chép lại từ nguyên bản, mất rất nhiều thì giờ, công sức và đắt tiền, cho nên chỉ có giới nhà giàu, tu viện hoặc các thư viện công cộng mới đủ tiền mua sách.

Với phương pháp của Johannes Gutenberg, sách vở tài liệu có thể được in nhanh chóng với giá thành thấp đến độ một người trung lưu bình thường cũng có thể mua về làm của riêng.

Nhờ phát minh của Gutenberg, cho đến ngưỡng cửa năm 1500, hầu hết các tác phẩm quan trọng của Hy Lạp và La Mã đều được in và phổ biến rộng rãi trong giới học giả và thanh niên sinh viên, làm nền tảng tư tưởng cho những khám phá mới trong các lĩnh vực triết học và khoa học.

Mà trong đó, các tác phẩm gốc thường là bản thảo do làn sóng di dân mang lại từ đế chế Byzantine sau khi Constantinople thất thủ năm 1453.

Thật khó hình dung rằng, phong trào Phục hưng và trào lưu Khai sáng có thể hoàn thành tốt đẹp các mục tiêu, nếu không có phát minh của Gutenberg hỗ trợ.

Nhưng kỹ thuật in ấn cũng chỉ là một phương tiện truyền thông, một mình nó không thể thúc đẩy sự phát triển văn minh trên cả lục địa. Điều gì đã làm cho tri thức nhân loại được phổ biến nhanh chóng và hiệu quả đến mọi người?

Chính là chế độ tự do kinh doanh trong lĩnh vực xuất bản và phát hành sách báo, một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ trong thế kỷ 16.

Với kỹ thuật in ấn nhanh và rẻ, nhu cầu đọc sách để nâng cao tri thức phát triển nhanh chóng trong mọi giới đã tạo nên một thị trường chữ nghĩa to lớn có sức hấp dẫn đầy ma lực, quyến rũ doanh nhân đầu tư, một xu hướng mà không một thế lực nào có thể ngăn cản được.

Học giả thích phát hành sách để đưa vào diễn đàn trao đổi, tranh luận, phản biện. Dịch giả, văn thi sĩ và tác giả chuyên nghiệp thì xem chuyện viết sách báo như một nghề mưu sinh được xã hội trọng vọng.

Nổi bật hơn là hiện tượng các nhà đầu tư và doanh nhân mạo hiểm sẵn sàng tham gia vào một lĩnh vực kinh doanh mới mẻ mặc dù đầy rủi ro, tạo điều kiện để chuyển tải tri thức đến tay người tiêu thụ.

Với mục đích kinh doanh – cho dù chỉ kinh doanh thuần túy – hoạt động của doanh nhân là khâu trung gian làm cầu nối giữa tác giả và độc giả, là phương tiện chuyển tải tri thức đến mọi giới trong xã hội, dù họ từ lúc đầu làm kinh doanh không phải vì ý định tốt đẹp đó.

Trong lúc vương triều và giáo hội chưa kịp nhìn thấy tác động mạnh mẽ của ngành in ấn xuất bản, thì các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, tạo nên một thế trận không thể nào đảo ngược, một sức mạnh ngành nghề không ai áp đảo nổi, vì sau lưng họ là độc giả, là mọi giới mọi ngành trong xã hội.

Và họ đã tạo nên một truyền thống bất thành văn kéo dài đến bây giờ: Sức mạnh của ngành xuất bản mãi mãi nằm trong tay tư nhân. Nhà nước chỉ đóng một vai trò rất mờ nhạt trong hoạt cảnh ấy.

Chắc hẳn nhờ thế mà phương cách truyền bá tri thức trong xã hội châu Âu được xảy ra vô cùng đa dạng, là mẫu mực cho nhiều nước sau này noi theo.

(3) Cách mạng tôn giáo và tâm lý hoài nghi của học giả

Vào ngày 31/10 năm 1517, một vị mục sư trẻ – Martin Luther, là giáo sư môn thần học thuộc đại học Wittenberg, đã đóng lên cửa chính nhà thờ Schlosskirche một bản cáo trạng bao gồm 95 luận đề chống lại đợt vận động của giáo phận Mainz – được hỗ trợ bởi sắc dụ Giáo Hoàng La Mã – nhằm bán Chứng chỉ Ân xá cho giáo dân.

Trong vòng hai tuần, 95 luận đề đó được lan truyền ra khắp nơi ở Đức, và sau hai tháng đã lan rộng khắp châu Âu.

Lúc đó, chưa ai nghĩ rằng, hành động của mục sư Martin Luther sẽ châm ngòi cho một cuộc cách mạng vĩ đại nhất so với các cuộc cách mạng trước đó và cả sau này.

Về mặt tôn giáo, nó vĩnh viễn thay đổi thế giới Kitô, phân hóa cộng đồng tôn giáo thành nhiều tông phái khác nhau dù cùng tôn thờ một Đức Chúa Trời, thay đổi cách nhìn của giáo dân về nội dung Thánh Kinh.

Ấy là chưa kể, danh hiệu cao quí Giáo hội Kitô không còn ý nghĩa để tồn tại, dần dần không ai dùng nữa mà thay vào đó, người ta chỉ còn gọi là giáo hội Thiên Chúa, hoặc quen thuộc hơn là giáo hội La Mã, tức là đại diện cho cộng đồng Thiên Chúa giáo (Catholic), chỉ chiếm một phần trong toàn bộ giáo dân Kitô.

Trước đó hai năm, vào ngày 31/3 năm 1515 Giáo hoàng Leo X đã ban hành sắc dụ ân xá (Papal Bull of Indulgence) nhằm mục đích tìm phương tiện tài chính cho việc xây dựng Thánh đường St. Peter hoành tráng ở Rome.

Sắc dụ này cho phép Tổng Giám mục địa phận Mainz ở Đức, trong vòng tám năm, được phép bán các chứng chỉ ân xá cho giáo dân để kiếm tiền, một nửa trả nợ cho ngân hàng Fugger và nửa kia chuyển về Rome để trang trải phí tổn xây dựng thánh đường.

Từ trước đến giờ trong ghi chép của Thánh Kinh, vốn cho biết tầng sám hối (Fegefeuer, Purgatory) là nơi mà người chết còn nhiều tội lỗi phải đi qua và tu luyện sám hối thêm để được ân xá trước khi được lên Thiên Đường.

Vậy mà giờ đây, theo qui định trong sắc dụ của Giáo hoàng, người sở hữu chứng chỉ ân xá khi chết và sau khi xưng tội trên giường bệnh sẽ được Chúa ban ơn, trong lúc trở về thế giới bên kia sẽ khỏi phải đi qua tầng sám hối cực khổ gian nan.

Nói theo phong cách ẩn dụ, việc mua chứng chỉ ân xá là mua vé vào cửa để bước thẳng lên Thiên Đường – mà đây không gì khác hơn là nạn tham nhũng, làm tiền của giáo hội trước lòng mê tín của giáo dân.

Martin Luther, từ nhiều năm trước đã có nhiều mâu thuẫn về tư tưởng với dòng chính thức của giáo hội trong việc lý giải Thánh Kinh, nhân dịp này phát động cả một làn sóng phản kháng chống lại chiến dịch của giáo phận Mainz về việc bán chứng chỉ ân xá cho giáo dân.

Martin Luther cho rằng, tội lỗi con người chỉ có thể được ân xá thông qua sự sám hối chân thành trong niềm tin vào Chúa, chứ không cần một thánh lễ làm môi giới, lại càng không thể nhờ vào các chứng chỉ ân xá để chứng minh.

Tất cả đều phải được xuất phát từ niềm tin vào Chúa và công lý chỉ tồn tại với niềm tin đó. Tất cả mọi lập luận của Luther đều dựa trên một nền tảng duy nhất, là những lời Chúa dạy được ghi chép trong Thánh Kinh.

Sự hưởng ứng nồng nhiệt của giáo dân trên khắp lục địa đối với bản cáo trạng của Martin Luther giống như một giọt nước tràn ly, biểu lộ sự bất mãn của giáo dân thuộc mọi giới vốn đã ngấm ngầm từ lâu, chỉ chờ cơ hội bộc phát.

Nguyên nhân sâu xa là do tình trạng tha hóa của các hàng giáo phẩm từ bậc thấp đến bậc cao, đặc biệt hết sức tồi tệ kể từ thế kỷ 14.

Để bán được nhiều chứng chỉ ân xá, vị quản lý đề án của Tổng giám mục địa phận Mainz, mục sư Johann Tetzel quảng cáo không dấu diếm với khẩu hiệu bằng thơ: “khi đồng tiền vào trong két bạc, linh hồn sẽ thoát khỏi tầng sám hối”.

Theo bản báo cáo của hội đồng quốc gia Đức năm 1524, Giáo hội Đức chiếm giữ hết một nửa tổng tài sản quốc gia. Còn ở Ý, một phần ba đất đai thuộc quyền sở hữu của giáo hội.

Cơ sở vật chất của nhà thờ nói chung trên khắp châu Âu thì vô cùng vĩ đại và tốn kém để chăm lo, vốn được trang trải bằng tiền thuế và các nghĩa vụ khác của giáo dân.

Không có gì ngạc nhiên khi khắp nơi và khắp các tầng lớp giáo dân đều nổi lên lời oán than về tình trạng sa đọa tham nhũng của giáo hội. Công chức giáo hội thì sẵn sàng làm giấy chứng nhận giả mạo để kiếm tiền.

Tất cả mọi chuyện xấu xa nhất đều có thể tìm thấy ở Rome. Mua chức bán tước là chuyện xảy ra hàng ngày.

Và để trang trải phí tổn cho đời sống xa hoa phung phí cùng những công trình xây dựng hoành tráng, hàng giáo phẩm địa phương cũng như Giáo Hoàng tại Rome đã không chừa bất cứ biện pháp nào, kể cả việc treo giá để bán chức tước, từ giám mục lên đến tận hồng y.

Khắp nơi trên lục địa nổi lên sự phản kháng chống lại chế độ nghĩa vụ tài chính để chuyển về Rome, chống lại hàng giáo phẩm thiếu kiến thức cũng như đạo đức luân lý, và chống lại sự can thiệp của Giáo Hoàng vào quyết định chính trị tại các quốc gia.

Nhưng giáo hội vẫn làm ngơ không đếm xỉa đến nỗi bất bình cực độ của giáo dân. Giáo hội chỉ có phản ứng chiếu lệ khi đã có nguy cơ bộc lộ sự hoài nghi của giáo dân về vấn đề niềm tin.

Trong bối cảnh đó, làn sóng phản kháng của Martin Luther đã nhanh chóng lan ra khắp lục địa, nhận được sự ủng hộ nồng hậu từ giáo dân cũng như giới học giả và một bộ phận thuộc hàng giáo phẩm trong sạch khắp nơi, vốn dĩ từ lâu bất mãn với giáo hội nhưng còn thụ động hoặc sợ bị trừng phạt.

Sự phản kháng này nhanh chóng biến thành một phong trào rộng lớn, một cuộc cách mạng mà chúng ta thường gọi bằng thuật ngữ quen thuộc Reformation (cải cách tôn giáo). Phong trào này kéo dài suốt hơn 150 năm và để lại hậu quả vô cùng to lớn trên nhiều phương diện.

Về mặt tôn giáo, thế giới Kitô đã bị phân hóa thành nhiều tông phái khác nhau.

Ngoài hai tông phái lớn là Thiên Chúa (Catholic) và Tin Lành (Protestant), còn có hàng chục tông phái khác được thành lập, thí dụ ở Anh có Anglican Church, Church of Scotland, ở Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan, mỗi nước có một tông phái riêng, ở Anh và sau đó lan truyền sang Mỹ có Baptist Church, Anglican Church, Quaker v.v…

Sự phân hóa này là trạng thái vĩnh viễn, Kitô sẽ không bao giờ thống nhất trở lại như thuở nào.

Về chính trị, thảm họa chiến tranh xảy ra giữa các quốc gia hoặc các lãnh địa có thủ lãnh theo những tông phái đối kháng nhau. Khốc liệt nhất là Cuộc chiến 30 năm (1618-1648) giữa các vương triều ủng hộ giáo phái Tin Lành và Thiên Chúa.

Người ta phỏng đoán rằng trên vùng đất của Đức và Áo hiện nay, khoảng 30% đến 40% dân số bị tiêu vong vì cuộc chiến tranh đó. Trên toàn châu Âu, số người chết không kém trận đại dịch ở giữa thế kỷ 14 mà chúng ta quen gọi là cái chết đen.

Nhưng bên cạnh những hậu quả xấu, cuộc cách mạng tôn giáo cũng đã tạo điều kiện cho những tiến bộ mang tầm vóc thế kỷ có cơ hội phát triển. Rõ rệt nhất là, xu hướng tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị nhân dịp này bộc phát mạnh mẽ với những đòi hỏi cải cách cực đoan.

Xu hướng này tất nhiên được các thế lực vương triều ủng hộ, vì bản thân họ trước sau vẫn là thế lực cạnh tranh với giáo hội.

Dưới sức ép của giáo dân và nhất là sau khi các giáo phái mới đã được thiết lập khắp nơi, thế lực thần quyền dần dần lùi bước trước các vương triều. Đặc biệt là ở những nước mà chế độ chính trị dân chủ đã được thiết lập từ cuối thế kỷ 18, ảnh hưởng còn lại của giáo hội lên nhà nước coi như không đáng kể.

Có lẽ điều đó cũng là may mắn lịch sử cho giáo hội để chấp nhận việc dần dần từ bỏ quyền lực, trở lại nắm giữ vai trò chăm sóc đời sống tinh thần cho giáo dân, nhờ thế mà giáo hội còn tồn tại đến hôm nay và được giáo dân trọng vọng.

Nhìn một cách tổng thể, cuộc cách mạng tôn giáo ở thế kỷ 16 có thể được xem như là cuộc cách mạng có ý nghĩa nhất trong lịch sử nhân loại. Về chính trị, tác động của nó lên xã hội châu Âu còn sâu sắc hơn cả cuộc cách mạng Pháp năm 1789.

Về văn hóa, nó tác động lên đời sống tinh thần người dân hơn bất kỳ một biến cố văn hóa nào khác trong lịch sử châu Âu trên bước đường tiến vào thời kỳ hiện đại.

Động cơ của phong trào cải cách không phải là ý muốn đặt giáo hội lên ghế bị cáo để đòi hỏi thay đổi tình trạng đã cực kỳ tha hóa, hoặc để khoác cho tôn giáo một nội dung mới, mà quan trọng hơn, đó là sự biểu hiện của nỗi bất bình xã hội, mà đa số giáo dân kể từ thế kỷ 14 đã chịu đựng dưới gánh nặng của tình trạng bất công tột độ do các định chế của giáo hội gây ra.

Nhà sử học người Pháp, François Guizot có một kết luận gãy gọn nhưng súc tích rằng, trong thời kỳ cách mạng tôn giáo, “các biến cố lịch sử xảy ra trong những khung thời gian hạn chế, nhưng tác động của chúng thì kéo dài đến vô tận”.

Cuộc cách mạng tôn giáo chắc hẳn là xung lực mạnh mẽ nhất để tạo ra những chuyển hóa lớn lao trong xã hội, phát những tín hiệu đầu tiên để bắt đầu một thế giới mới hiện đại.

Xung lực ấy đã tác động sâu sắc lên tâm lý con người thuộc mọi giới, đặc biệt là đối với giới có ăn học đương thời.

Bản sắc của người trí thức châu Âu vốn được manh nha từ chủ nghĩa nhân bản trong thời đại Phục hưng, được nhào nặn dần dần kể từ cuộc cách mạng tôn giáo ở thế kỷ 16, chúng tích lũy và kết tụ lại để thành hình những sắc thái đặc biệt, tạo ra những con người có các tính chất đặc biệt mà chúng ta gọi là con người Khai sáng trong thế kỷ 17 và 18.

Thật vô cùng lý thú và bổ ích để đi sâu khảo sát những thành tố đó, tuy nhiên trong khuôn khổ nhỏ hẹp này, chỉ xin nêu lên vài khía cạnh dưới dạng từ khóa và không diễn giải.

  • Thứ nhất, lòng tự tin vào chính mình. Tri thức do chính mình khám phá và chọn lựa, chứ không phải do một định chế nào bên ngoài qui định ép buộc.

Thế lực giáo hội đã được xây dựng cả ngàn năm không có đối thủ, Kitô đã trở thành một nền văn hóa đồng nhất cho cả lục địa, và thần học Kitô đã là nguồn tư tưởng độc tôn suốt hơn 1.000 năm, thế mà cuối cùng, tất cả cũng phải lùi bước trước sức phản kháng của lẽ phải.

Từ đó, người ta có lòng tin vô biên rằng, không cần chiến tranh hoặc bạo loạn, mà chỉ cần tri thức và lẽ phải, khi được đám đông ủng hộ và được dẫn dắt bởi một ý chí mãnh liệt, thì mọi thế lực tha hóa sẽ phải lùi bước.

  • Thứ hai, tinh thần phản biện, phê phán và ý thức phản kháng chống lại những quyền lực tha hóa. Sức mạnh thúc đẩy phong trào cải cách tôn giáo là Martin Luther và người bạn đồng môn Philipp Melanchthon.

Hoạt động của họ là mẫu mực chưa hề có trước đó về tinh thần đấu tranh ôn hòa nhưng quyết liệt của giới học giả. Họ phản biện phê phán giáo hội, Giáo Hoàng và các vương triều thủ cựu; họ phản biện phê phán các học giả thụ động hoặc cúi đầu thuần phục giáo hội lúc đó; họ phản biện phê phán cả những người ủng hộ phong trào nhưng nằm yên thụ động.

Lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu, có một phong trào phê phán mang tính chất đấu tranh dẫn đến cách mạng như phong trào cải cách tôn giáo.

Đó là những viên gạch đầu tiên xây dựng tinh thần phê phán trong thế kỷ 17 và 18, đặc biệt ảnh hưởng đến tinh thần giáo dục Khai sáng cho các thế hệ học sinh sinh viên với phương châm:

Điều quan trọng trong giáo dục không chỉ là thu thập và quản lý tri thức, mà là phương pháp tiếp cận đến tri thức, phương pháp xây dựng tư duy tự do có phê phán.

  • Thứ ba, tinh thần hoài nghi, vốn dĩ là tính chất quan trọng hàng đầu của triết gia và nhà khoa học. Chỉ trên cơ sở hoài nghi những điều đã biết trong quá khứ và hiện tại, họ mới tò mò nghiên cứu để khám phá những điều mới lạ cho tương lai.

Học giả châu Âu vốn đã ngủ quên suốt cả ngàn năm trong giáo điều ý thức hệ, giờ đây mới bắt đầu thức dậy bởi cuộc cách mạng tôn giáo.

Họ nghi ngờ về các lý giải của giáo hội, nghi ngờ luôn cả sự đúng đắn của Thánh Kinh, nghi ngờ về vai trò dẫn dắt của hàng giáo phẩm, nghi ngờ luôn cả tri thức và tính chính danh của Giáo Hoàng.

Họ nghi ngờ đạo đức của quan chức, nghi ngờ sức mạnh tuyệt đối của giáo hội, nghi ngờ về các giá trị truyền thống từ thời cổ đại, về triết học cũng như khoa học tự nhiên v.v…

  • Thứ tư, tinh thần tư duy độc lập. Cho đến thế kỷ 16, học giả có niềm tin không lay chuyển về Thánh Kinh và văn hóa cổ đại. Cuộc cách mạng tôn giáo đã giải phóng họ ra khỏi tư duy chật hẹp đó, giúp họ thoát ly khỏi các định chế bảo hộ và triết lý thần học, mặc dù trước sau họ vẫn là những tín đồ ngoan đạo.

Từ hoài nghi đến ly khai ý thức hệ là một đoạn đường phức tạp nhưng tất yếu, từ đó giới trí thức mới có can đảm bước vào những vùng đất mới mẻ với những luồng tư tưởng mới, con người mới, xã hội mới.

Sự ly khai về tư tưởng đã tạo cho giới học giả một phong thái mới trong việc tìm tòi nghiên cứu sau này trong mọi lĩnh vực.

  • Thứ năm, ý thức bình đẳng. Đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ nền thương mại và phồn vinh trong xã hội, cuộc cách mạng tôn giáo đã làm nảy sinh kể từ giữa thế kỷ 16 “những suy nghĩ bước đầu về công bằng xã hội và bình đẳng kinh tế, điều đã ảnh hưởng sâu sắc lên hệ tư tưởng Tây Âu” trong những thế kỷ về sau.

Hệ tư tưởng này vừa là nguyên nhân phát sinh xung đột và bất ổn, đồng thời cũng cống hiến lời giải cho một xã hội lý tưởng, trong đó con người có thể sống và ứng xử ôn hòa với nhau.

Có đạt được điều đó hay không, lịch sử sẽ trả lời cụ thể, nhưng dù sao, bình đẳng không chỉ là một khái niệm đạo đức, mà đã trở thành một giá trị thời đại, ai ai cũng tôn sùng. Có lẽ khái niệm bình đẳng nói trên cũng là yếu tố đáng quan tâm, cho những ai muốn so sánh sự khác nhau giữa Tây phương và Đông phương thời cận đại.

  • Thứ sáu, vai trò trung tâm của con người. Suốt cả hơn ngàn năm, người ta giao khoán trách nhiệm về đời sống đạo đức của họ cho những người đại diện Thiên Chúa trên trần gian, ấy là những mục sư, giám mục và trên cùng là Giáo Hoàng ở Rome.

Bây giờ, họ ý thức sâu sắc hơn chân lý của Protagoras: “con người là thước đo của vạn vật”. Tư tưởng này của người châu Âu thực ra đã có từ thế kỷ Phục hưng, nhưng phải đợi đến cuộc cách mạng tôn giáo, nó mới trở thành chân lý của cuộc sống.

Giờ đây, con người là tâm điểm của mọi hoạt động, cuộc sống hạnh phúc trên trần thế là mục đích tối thượng.

Khi cửa ngõ bước lên Thiên Đường có thể mua được bằng tiền bạc thì khái niệm Thiên Đường bên ngoài cuộc sống con người cũng không còn quan trọng như trước. Lời dạy của Thánh Kinh về thế giới sau khi chết cũng không còn đáng tin cậy.

Họ vẫn ngoan đạo, vẫn tin vào Thượng Đế toàn trí toàn năng, nhưng không thừa nhận một Thượng Đế có quyền phán quyết lên đời sống của họ.

Cũng chính nhờ thế mà các nghiên cứu về triết học và khoa học tự nhiên mới có thể thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của giáo lý thần học, để chấp cánh bay đến những chân trời mới.

  • Thứ bảy, và cũng chưa hẳn là cuối cùng, đó là ý chí mãnh liệt để hành động.

Từ những con người trước đây vốn mù quáng với ý thức hệ, sợ hãi và thuần phục trước cường quyền, thụ động tuân theo sự chỉ bảo giáo điều của các thế lực bảo hộ.

Bỗng nhiên giờ đây lại hình thành một tầng lớp trí thức mới, vươn vai đứng dậy như phượng hoàng vỗ cánh, thách thức mọi đàn áp, đe dọa để giành lại quyền tự do tư tưởng, quyền tự chủ trong quyết định, ý chí hành động độc lập để thay đổi cuộc đời.

Vào tháng 12/1520, Martin Luther đã đốt sắc dụ của Giáo Hoàng hòng đe dọa trục xuất ông ra khỏi đạo. Thái độ này là sự phủ nhận tiếng nói của người có quyền lực nhất thế gian.

Đây là một hành động can đảm chưa hề có tiền lệ, cho nên đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của ý chí đấu tranh, thay đổi lối suy nghĩ và hành động của giới học giả đương thời.

Nếu trong khoảng thời gian trước đó, sự biến chuyển trong tư duy con người chưa xuất hiện ra bên ngoài vì sợ hãi, thì sau đó, ý chí hành động vì lẽ phải – vốn là nét đặc trưng độc đáo của giới trí thức mới của thế kỷ 16-17, và trở thành tính chất khá phổ biến của con người Khai sáng thế kỷ 18 mà sử gia gọi là “con người của lý tính” – khó có thể trở thành hiện thực.

Chính nhờ sự thay đổi đột biến này, cả trào lưu mới hội đủ sức mạnh để hạ bệ chế độ phong kiến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước.

Trên đây là vài tính chất quan trọng của tầng lớp trí thức mới, thành quả lớn lao của cuộc cách mạng tôn giáo lên sự phát triển nhân cách của con người thời cận đại. Trào lưu này đã làm cho hai thế kỷ 16 và 17 trở thành thời kỳ của những biến cố vĩ đại, với những con người vĩ đại.

Họ vừa là sản phẩm của tiến trình lịch sử và cũng vừa là tác nhân cho những tiến bộ lịch sử trong suốt thời gian về sau. (Còn tiếp)

Tôn Thất Thông

Ảnh 1: Martin Luther – Người đã khởi xướng cuộc cách mạng tôn giáo khi đóng lên cửa nhà thờ Schlosskirche bản cáo trạng chống lại quyết định của Giáo Hoàng nhằm bán chứng chỉ ân xá cho giáo dân. Mà hệ quả của việc này là dẫn đến sự phân rã của Kitô thành nhiều tôn giáo khác nhau, cũng như mở đầu cho công cuộc tách tôn giáo ra khỏi chính trị sau này.

Ảnh 2: Thời đại Khai sáng cổ vũ cho những con người lý tính mong muốn thoát khỏi vòng kiềm tỏa của triết lý Thần học giáo điều, điều này đã tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển cuộc cách mạng Khoa học về sau.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *