Có lẽ do cuộc sống quá được ưu đãi từ thiên nhiên hào phóng, con người cũng trở nên phóng khoáng. Từ một câu có tính nhận xét trong đời sống hàng ngày, mà chúng ta thấy ở đâu cũng đúng:
Chiều chiều quạ nói với diều
Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con
…vào đến miền Nam chúng ta nghe thấy nó biến thể thành:
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù Lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Người miền Nam có thể chuyển nhóm chữ “Cù Lao Ông Chưởng” thành một nhóm chữ nào đó thích hợp với địa danh họ đang sống, họ chẳng hề bị bó buộc phải rập khuôn theo câu ca có sẵn. Vùng Ô Môn, Bình Thủy (Cần thơ) cũng có câu tương tự, chỉ đổi bốn chữ cù lao Ông Chưởng bằng bốn chữ Ô Môn Bình Thủy. Chúng ta có thể tìm thấy dạng này khắp nơi ở miền Nam, lâu dần chúng ta không còn biết câu nào là nguyên bản, câu nào là sao chép. Ở vùng Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười chúng ta có câu:
Nước chảy Láng Linh, chảy ra Vàm Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun
Nhưng vùng Trà Cú (Vĩnh Long – Vĩnh Bình), ta lại nghe:
Nước chảy sông xa, chảy qua Trà Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun
Một câu khác mà chúng ta ai cũng biết:
Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con
…để chỉ Nam Vang là xứ ở xa, rất xa, đi lại không tiện, ai đi Nam Vang (nghĩa là qua Miên) làm ăn thì thường lập gia đình luôn ở bên ấy. Ở miền Nam, chúng ta nghe không thiếu gì câu hát trên, chì đổi chữ Nam Vang thành Long Xuyên, Cần Thơ, Gò Công… và nghe những câu ấy, chúng ta cảm được cái tình ấm áp của người địa phương làm cho kẻ lãng du phải dừng chân:
Tới đây thì ở lại đây,
Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về
Thật ra. tính uyển chuyển của ca dao Nam Bộ vừa nêu không phải là một đặc thù của ca dao miền Nam, nhưng ở miền Bắc và miền Trung, những dị bản của những câu ca dao ít tìm thấy hơn ở trong Nam. Một trong những câu điển hình là câu:
Gió đưa cành trúc la đà
Hồi chuông Trấn Quốc, canh gà Thọ Xương
….ở ngoài Bắc, vào đến Huế biến thành:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Cũng vì tính chất này mà ở miền Nam, chúng ta thấy ca dao thường ở dạng lục bát biến thể nhiều hơn. Số chữ trong mỗi câu hoàn toàn tùy thuộc vào cách nói, không bị gò cho đủ 6 hay 8 chữ, miễn sao diễn tả đủ ý muốn nói và có vần điệu dễ đọc, dễ nhớ. Phải chăng tính thực tiển và phóng khoáng của người dân Nam bộ đã làm cho sự uyển chuyển dễ xảy ra hơn?
Nhân đây, xin nói thêm về tính uyển chuyển đó ở trong Nam, ai đã từng sống ở nông thôn vùng Cửu Long đều biết, khi cúng dựng nhà người nông dân miền Nam thường bày dĩa trái cây trên bàn thờ theo công thức: dừa, đu đủ, xoài; hay mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài biểu thị lòng mơ ước của họ: vừa đủ xài hay cầu vừa đủ xài, họ không bao giờ cúng chuối, dù trên bàn thờ của gia đình vào ngày Tết, cho rằng như vậy là chúi nhủi, khác với cư dân từ Nha Trang vào đến Xuân Lộc luôn có chuối trên bàn thờ, bất luận dịp nào- Đó là do cách phát âm trong Nam không phân biệt dừa và vừa, xoài và xài, chuối và chúi. Ở đồng bằng Nam Bộ người ta chỉ bày chuối trên bàn thờ Phật.
Cũng do sự dễ dãi trong phát âm, không chàng trai gốc ngoài Bắc hay Trung nào, lần đầu tiên khi vào miền Nam (đặc biệt miệt vườn Cửu Long) không hết hồn khi gặp mấy cô gái ruộng tay cầm vòng hái (lưỡi hái) chấp lại kính cẩn chào xin vái thầy hay bị chới với khi cô gái vườn niềm nở mời hôm nào “quởn” ( hưởn), mời anh vô vườn em chơi.
Xin nhắc lại là người miền Nam dễ lẫn lộn âm v và âm d, gi…
Tác giả : Hoa Dạ
Ps: Thêm 1 ví dụ nữa về nét sinh hoạt đời sống sinh hoạt của người nam thời trước. Vụ án Đồng Nọc Nạn của anh em nhà Biện Hỉ ( có phân khúc trong Đất Phương Nam). Khi nhà ông quyết sống mái để giành đất ông bà tổ tiên thì 2 ông Đốt nhang tổ tiên( báo Hiếu lần cuối)thưa sự việc sau đó cắt máu ăn thề chiến đấu tới cuối cùng. Trong phân đoạn ở Đất Phương Nam thì trích đoạn là Ông đốt nhang gia tiên sau đó đi thăm mồ mả, rồi tắm rửa sạch sẽ, quấn tóc bận áo dái rồi treo cổ ngay trong nhà.
.1 số ảnh kiểu tóc các cụ miền nam





