Ảnh: Niayu
Xưa nay, các bà trong hậu cung thường xuất thân nhà quan lại, võ tướng. Tuy nhiên, có vài trường hợp là dân nữ hay nô tỳ, do duyên phận mà trở thành chính thê/thứ thất của hoàng đế. Những câu chuyện này đều được giai thoại, thần tích ở đền của các bà ghi lại.
1. Đệ tứ hoàng phi Nguyễn Thị Sen
Theo thần tích đền thờ tổ nghề may ở thôn Trạch Xá (HN), bà Nguyễn Thị Sen là người phụ nữ xinh đẹp đảm đang. Ngay từ nhỏ, bà đã nổi tiếng chăm chỉ, khéo tay hay làm, bà phụ bố mẹ việc nhà, việc đồng áng, quay tơ dệt vải, trồng dâu nuôi tằm. Khi trưởng thành, nhiều người muốn cưới nhưng bà nói: “Phận làm con hiếu lễ làm đầu, nay cha mẹ vẫn còn nhưng sức đã yếu thì tôi phải hết lòng phụng dưỡng, đâu dám vì chuyện riêng của mình mà quên đi bổn phận”.
Khoảng niên hiệu Thái Bình (970 – 979), Đinh Tiên Hoàng tuần du nhiều nơi để xem xét dân tình, mộ người hào kiệt giúp nước giúp dân. Đến làng Trạch Xá, thấy bà vừa đẹp người vừa đẹp nết, ông đã làm lễ hỏi rồi lập làm hoàng phi, tục gọi tứ phi. Tin tưởng tài năng của bà, ông giao cho bà trông coi việc dạy cung nữ nuôi tằm, dệt vải, may quần áo cho hoàng cung.
Thật ra, thời gian đầu vào cung bà rất buồn vì nhàn rỗi nên thường lẻn vào xem cung nữ may áo, thêu thùa. Vốn giỏi nghề may, bà đã giúp họ thiết kế mũ áo nên mọi người trong cung rất thích. Vua Đinh mới giao cho bà quản về thượng y.
Sau biến cố năm Mậu Dần (978), bà Nguyễn Thị Sen về lại quê hương. Tại đây, bà truyền dạy nghề may cho dân. Cứ thế, Trạch Xá trở thành một làng nghề may thêu nổi tiếng.
Tri ân bà, dân làng tôn bà là Thánh Sư và lập đền thờ khi bà mất. Hàng năm, vào ngày kị 12 tháng chạp của bà, dân chúng tổ chức cuộc thi may vá để tưởng nhớ tổ nghề Nguyễn Thị Sen. Đến đời Lý, nghề may Trạch Xá phát triển ở Thăng Long, một thời thịnh vượng.
2. Linh Nhân thái hậu
Năm Giáp Thìn (1064), khi vua Lý Thánh Tông đến chùa Thổ Lỗi cầu tự và mở hội tuyển cung nữ. Song có nguồn cho rằng đó là vào mùa xuân năm 1063, khi vua đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), qua hương Thổ Lỗi (Làng Sủi, làng này nằm ngay cạnh con đường thiên lý để đi vào chùa Dâu), Ngài vén rèm nhìn ra, thấy từ xa có người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo. Sau đó thì đưa người con gái ấy vào cung.
Lê thị vào cung, phong làm Ỷ Lan Phu nhân. Tên hiệu Ỷ Lan nghĩa là tựa vào gốc lan, Thánh Tông ban phong hiệu này để lấy làm kỷ niệm của việc gặp gỡ giữa hai người. Thánh Tông sang tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hội hậu nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa. Nhà sư dạy cho Bông thuật đầu thai thác hóa, Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là Đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm. Đồng Bông ở phía tây trước cửa chùa, nay hãy còn. Lễ thức “Bông Sòng”, hiện còn được biểu diễn hàng năm vào dịp Lễ hội ở Làng Sủi quê hương Bà (3/3 Âm lịch) là hoạt động duy nhất trong cả nước Việt Nam hiện nay mô tả, nhắc nhớ lại việc giải oan cho ông Nguyễn Bông. Hiện nay, có đền thờ Đức Lý Thái Hậu (bà Ỷ Lan) ngay cạnh Đình làng Sủi, trên có đắp nổi chữ “Mẫu nghi thiên hạ”, trong mật thất có ngai thờ vương miện của vua và mũ của bà.
Mùa xuân, tháng Giêng, năm 1066, Linh Nhân Hoàng nhân sinh ra Hoàng tử Lý Càn Đức. Ngày hôm sau, lập làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, và phong mẹ là Ỷ Lan Phu nhân làm Thần phi.
Năm Mậu Thân (1068) bà lại sinh ra Minh Nhân vương, có thuyết sau đó là Sùng Hiền hầu. Thánh Tông cho đổi hương Thổ Lỗi làm hương Siêu Loại và phong Thần phi làm Nguyên phi, đứng đầu các phi tần trong cung.
3. Linh Từ quốc mẫu
Trần thị là con gái của Trần Lý, cô ruột của vua Trần Thái Tông (1225 – 1258). Bà vốn quê ở Lưu Gia, Hải Ấp (nay là đất Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Năm Kỉ Tị ( 1209), chính sự nhà Lý đổ nát, kinh thành Thăng Long hỗn loạn, Thái tử của nhà Lý là Lý Hạo Sảm, bấy giờ mới 15 tuổi, chạy đến vùng Lưu Gia, nhân đó, kết hôn với Trần thị. Nhờ gia đình Trần Lý bảo bọc và hết lòng giúp đỡ, Thái tử Lý Hạo Sảm đã mau chóng tập hợp được một lực lượng khá hùng mạnh. Năm Tân Mùi (1210), vua cha là Lý Cao Tông qua đời, Thái tử Lý Hạo Sảm được triều thần đón về để tôn lên ngôi vua, đó là vua Lý Huệ Tông (1210 – 1224). Năm ấy, bà được sách phong làm Nguyên phi (đứng đầu hàng thứ hai của vợ vua). Nhưng, địa vị của Nguyên phi trong hoàng gia kể cũng thuộc hàng ba chìm bảy nổi. Đầu năm 1213, do vua Lý Huệ Tông có chút nghi ngờ đối với anh trai của bà là Trần Tự Khánh, bà bị giáng xuống hàng Ngự nữ (thấp nhất trong các thê thiếp của vua): Năm Bính Tí (1216), bà được sách phong làm Thuận Trinh Phu nhân và đến cuối năm ấy lại được sách phong làm Hoàng hậu.
Hoàng hậu Trần thị sinh hạ hai Công chúa. Trưởng Công chúa là Thuận Thiên, sinh tháng 6 năm Bính Tí (1216), sau gà cho Trần Liễu và Công chúa thứ hai là Chiêu Thánh, sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218), sau vì Lý Huệ Tông không có con trai lại mắc bệnh điên, Chiêu Thánh được truyền ngôi vào năm Giáp Thân (1224), ấy là Lý Chiêu Hoàng (1224 – 1225), Hoàng đế cuối cùng của triều Lý.
Cuối năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng bị Trần Thủ Độ tuyên bố kết hôn với Trần Cảnh. Ngay sau đó, bà nhường ngôi cho “chồng”. Nhà Trần được lập kể từ đó.
Từ ngày có mặt trong hoàng cung, Trần thị luôn tìm cách tạo điều kiện cho họ Trần phát triển thế lực, ấy cũng là sự khôn khéo phòng thân. Khi triều Trần được thiết lập, bà một lòng giúp rập họ Trần. Đầu năm Bính Tuất (1226), Thượng hoàng Lý Huệ Tông bị phế, bắt ra ở chùa Chân Giáo, cho đổi gọi là Huệ Quảng Đại sư. Ngay sau khi Lý Huệ Tông bị giết hại, bà bị giáng làm Thiên Cực Công chúa và đem gả cho Trần Thủ Độ.
4. Vũ phi
Vào năm 1239, Thái Tông đi tuần qua đạo Sơn Nam phủ Thiên Trường, xa giá nghỉ ở làng Miễu (huyện Nam Trực, Nam Định). Nghe tin xe loan đến, dân làng ra bái kiến & dâng lễ vật để tỏ lòng thành kính. Thái Tông hỏi chuyện dân sinh mùa màng với đại diện là cô gái Vũ Thị Vượng. Theo thần tích, những câu trả lời của bà khiến hoàng đế đẹp lòng nên nạp làm phi, còn gọi là Vũ phi.
Sau 10 năm vào cung, bà hiếm muộn nên thỉnh cầu Thái Tông cho đạo sĩ cầu tự, việc này được chính sử chép: “Hoàng tử thứ 6 Nhật Duật sinh.Trước đó, đạo sĩ cung Thái Thanh tên là Thậm cầu tự cho vua. Đọc sớ xong [đạo sĩ] tâu vua: “Thượng đế đã y lời sớ tấu, sắp sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh, ở trần thế bốn kỷ” (ĐVSKTT). Chính sử không cho biết mẹ Chiêu Văn Đại Vương là ai nhưng thần tích thì nói là bà Vũ Thị Vượng. Theo một số tài liệu dã sử, bà sinh thêm Bình Nguyên Vương Trần Nhật Vinh, Chiêu Đạo Vương Trần Quang Xưởng & Trần Ích Tắc.
Năm 1330, Chiêu Văn Vương qua đời, tương truyền ông trăng trối muốn nằm bên mộ mẹ nên Trần Hiến Tông đưa linh cữu ông táng ở đất song ngư tại làng Miễu, xã Mạt Lãng, lập đền thờ cả 2 mẹ con ông.
5. Lê Thị Hoa Nương
Chúng ta đã biết Lê Thái Tổ không vợ nhưng có 5 bà thứ thất: Thần Phi Trịnh Thị Ngọc Lữ, Huy Chân công chúa Trần Ngọc Hiền – con gái Trần Duệ Tông, Thái Tổ Cao Hoàng Hậu Phạm Ngọc Trần, Huệ Phi Phạm Thị Nghiêu và phu nhân Đinh Thị Ngọc Ban – con gái Định Quốc Công Đinh Bồ. Ngoài ra, ông còn có một vị hôn thê là Lê Thị Hoa Nương.
Theo thần tích làng Hội Hiền (Thanh Hóa), năm 1424, quân Lam Sơn tập kích Bất Căng thu khí giới và đốt phá đồn giặc. Trận đánh này có sự giúp đỡ của một cô gái người địa phương là Lê Thị Hoa Nương.
Vì thông thạo địa bàn, Hoa Nương đã dẫn đường cho nghĩa quân tập kích đồn giặc. Sau chiến thắng, Bình Định Vương làm lễ khao quân ở Hội Hiền và tổ chức đính hôn với Hoa Nương hẹn ngày khải hoàn kết duyên Châu Trần. Sau đó, nghĩa quân Lam Sơn tiến thẳng đến Nghệ An.
Tại quê nhà, Hoa Nương cùng dân làng rèn đúc vũ khí; tích góp lương thực để hỗ trợ nghĩa quân. Tuy nhiên, bà đột ngột bạo bệnh qua đời.
Một đêm, Bình Định Vương mơ thấy Hoa Nương đến khóc mà nói rằng: “Thiếp và ngài vốn có lương duyên nhưng thiếp phận mỏng không thể hầu ngài theo tâm nguyện. Nay âm dương cách biệt, thiếp xin âm phù cho đế nghiệp lập thành”.
Đến năm 1428, Thuận Thiên hoàng đế Lê Lợi lập đàn bái tế Hoa Nương theo nghi thức hoàng hậu và sắc phong cho bà là: “Khai quốc công thần, Quốc mẫu Trinh liệt, Hoàng phi Lê thị, hiệu Ngọc Ân”.
Đền thờ bà gọi là đền bà Am. Dân làng Hội Hiền tổ chức lễ kị cho bà vào ngày 27 tháng 9 âm lịch. Các hoàng đế triều Lê Trung Hưng và Nguyễn đều gia phong cho bà.
6. Nguyễn Quý phi
Theo Đại Việt thông sử, bà là người Kim Trà (Huế). Khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm (1470 – 1471), trở về ngang thấy bà đang gánh nước bên đường bèn thử tài rồi đưa vào cung. Dần dần phong tới Quý phi, bà sinh Triệu Vương Thoan.
7. Chiêu Nhân thái hậu
Chiêu Nhân thái hậu Nguyễn thị, húy là Cẩn, hay bị đọc thành Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn. Lúc nhỏ mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ tần tảo nuôi con khôn lớn.
Một hôm, người mẹ bắt được con cá to để lại cho con ăn chứ không bán cho lý trưởng nên bị lý trưởng thù ghét và tìm cách hãm hại khiến người mẹ cùng quẫn phải bán con gái đi làm người ở cho một gia đình giàu ở kinh thành Thăng Long. Sau nhà ấy có tội, Nguyễn Thị Cận bị tịch thu sung làm quan tỳ, do đó được vào hầu Vĩnh Ninh cung, nơi ở của Huy Gia hoàng thái hậu, khi ấy đang là Quý phi đứng đầu hậu cung.
Thái tử Lê Tranh (Lê Hiến Tông) khi thăm Nguyễn Quý phi, tình cờ thấy nô tì Nguyễn Thị Cận xinh đẹp, đem lòng yêu mến, xin Hoàng hậu cho lấy về làm thiếp. Lúc đó Thái tử đã có Chính phi là Nguyễn Thị Hoàn, Thứ phi là bà Mai Ngọc Đỉnh, người đã sinh ra cho Thái tử con trai đầu tiên là Lê Tuân và cuối cùng là Nguyễn thị người xã Hoa Lăng. Bà xuất thân hèn kém, trong số các phi tần của Lê Hiến Tông, bà thân thiết với Hoa Lăng Nguyễn thị nhất, cũng vì xuất thân như thế nên Nguyễn Quý phi rất không thích bà, thường tỏ ra lạnh nhạt.
Ngày 5 tháng 5, năm 1488, Nguyễn Thị Cận sinh một hoàng nam, đặt tên là Lê Tuấn. Nhưng bà bị bệnh hậu sản, băng huyết dẫn đến qua đời ngay sau đó. Trước khi lâm chung, bà đã nhờ bà Kính phi chăm sóc con mình.
Ngày 8 tháng 12, năm 1504, Lê Túc Tông Lê Thuần – con của Quý phi Nguyễn Thị Hoàn qua đời mà không có con nối dõi. Trước khi băng, Lê Túc Tông đã chỉ định anh trai Lê Tuấn làm người kế thừa. Nhưng Huy Gia hoàng thái hậu vì cho rằng bà là người thấp hèn nên con trai cũng không ra gì, không đồng ý với di chiếu. Các đại thần giúp đỡ Lê Tuấn là Nguyễn Nhữ Vy cùng Nguyễn Kính phi quyết định lập mưu lừa Thái hoàng thái hậu, lập Lê Tuấn lên kế vị. Lê Tuấn lên kế vị, tức là Lê Uy Mục.
Năm Đoan Khánh thứ 1 (1505), ngày 18 tháng 2 âm lịch, Uy Mục Đế truy tôn mẹ mình làm Chiêu Nhân Hoằng Ý hoàng thái hậu
Vì xuất thân của bà, Uy Mục bị bà nội là Huy Gia hoàng hậu khinh thường. Sau này, do Huy Gia không làm theo di ngôn của Túc Tông nên bị Uy Mục hạ độc.
8. Hoàng phi Lê thị
Bà người xã Sa Lung, châu Minh Linh. Gia đình mắc tội, bị sung làm nô tì. Khi Uy Mục chưa lên ngôi, còn theo học thầy, bà cùng học với Uy Mục, ông trông thấy rồi đem lòng yêu thương. Năm 1504, Uy Mục lên ngôi, phong Lê thị làm Quý phi và độc sủng trong cung. Năm 1509, Uy Mục đế bị giết, bà bị Vũ Tá hầu cưỡng bức trong cung.
9. Minh Thục thái hậu
Ông vua 1 vợ 5 thiếp với 6 dân tộc Lê Thần Tông cũng có giai thoại tình ái với thôn nữ, bà tên Nguyễn Thị Bạch Ngọc, quê Nam Định. Truyền rằng, khi ông đi kinh lý này, người dân đều ra chào hỏi duy chỉ cô gái cắt cỏ vừa làm vừa hát, đặc biệt trên đầu có mây xanh hình chiếc lọng che phủ. Ông hỏi lai lịch và nạp bà vào cung, sau sắc phong Quý phi. Năm 1630, bà sinh Lê Chân Tông. Khi mất, bà táng ở quê nhà và được truy tôn Minh Thục hoàng thái hậu, cho xây điện Hoàng Long ở thôn Thanh Vân để thờ nên gọi là đền hoàng thái hậu
10. Nhu Thuận hoàng hậu
Bà Đào Thị Ngọc Liễu (hoặc Nhiêu) là hoàng hậu cuối cùng của triều Lê trung hưng, thân mẫu vua Lê Hiển Tông. Câu chuyện về Đào thị – người vùng Nghĩa Trụ còn gọi là Đào Thị Ngọc Liễu – là những truyền kỳ, được truyền tụng qua nhiều đời của người dân vùng Nhân Vực, Nhân Thục, Đồng Tỉnh, Hoa Cầu thuộc trấn Kinh Bắc – Bắc Ninh xưa, nay là xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Cha bà là ông Đào Phúc Kiên, mẹ là Đào Quý Tịnh, ngoài việc đồng áng, ông còn là một thợ mộc giỏi, lại có hoa tay vẽ tranh, ông thường vẽ tranh bán ở các chợ quê. Không may bà Tịnh mất sớm, ông Kiên phải chịu cảnh gà trống nuôi con.
Để có thể nuôi thân, nuôi con, ông đã rời quê ra phố Nam Ngư, Hà Nội kiếm sống. Một hôm, triều đình tổ chức thi tuyển thợ giỏi và những người có hoa tay vào sửa chữa, trang trí các cung điện trong hoàng thành. Ông ghi tên xin thi và đề thi của ông là bức tranh vẽ quả dưa bở vùng quê ông. Tranh vừa vẽ xong thì đã có trống báo nộp bài, mà tranh vẫn còn ướt, bí quá, ông đem ra nắng phơi, những nét sơn vẽ co lại tạo ra những rãnh nứt loằng ngoằng, ông lo quá, nhưng không ngờ quan chấm thi lại rất thích và khen là đẹp.
Thế là bức tranh của ông được chọn, ông được tuyển vào cung làm việc, đi theo ông là cô con gái yêu Đào thị, cô gái quê Đào thị ở tuổi trăng tròn đã lọt vào mắt xanh vị hoàng tử, Đào thị trở thành Tiệp dư của hoàng tử Lê Duy Tường, tức Lê Thuần Tông.
Năm 1717, Đào thị sinh được một hoàng nam, đặt tên là Lê Duy Diêu, đó chính là vua Lê Hiển Tông sau này.
Khi Thuần Tông lên ngôi năm 1732, bà được lập làm Hoàng hậu.
Khi đã là Hoàng hậu, rồi Hoàng thái hậu, bà vẫn sống gần dân, gắn bó với quê hương. Đến nay người dân Nghĩa Trụ cũng như dân trong vùng vẫn còn nhớ câu ca mà mỗi lần về thăm quê, bà thường đọc cho các bô lão trong vùng nghe:
Đến nay đã là vợ vua
Ta vẫn còn thích canh cua đầm lầy.
Bà mất vào tháng 5, mùa hạ, năm 1775, thụy là Nhu Thuận.
Nhưng mãi đến 3 năm sau, năm 1778 mới làm lễ an táng Thái hậu. Trước kia, thái hậu mất, vì Trịnh Sâm đang mắc bận về việc dụng binh, nên việc an táng bị ngăn trở; lúc đoạn tang cũng chưa táng được. Đến nay, mới làm lễ an táng ở xã Dịch Vọng gần kinh kỳ.
Đất nước lại rơi vào nhiều cuộc chinh biến liên miên. Tiếp đến là những cuộc chống ngoại xâm của dân tộc. Do đó, các tài liệu lịch sử nói về bà như thần phả, đền thờ của bà bị tàn phá, thất lạc, đã hàng trăm năm nay chỉ còn trong truyền thuyết dân gian.
Nguồn: Việt sử Chuyện tình của đế vương, Lê Thái Dũng
