Vì sao Liên Xô cắt Ngoại Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc? 

Tác giả: Dương Danh Dy, nhà ngoại giao, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc, học giả hàng đầu Việt Nam trong nghiên cứu về vấn đề Trung Quốc sưu tầm dựa trên hồi ký của Tưởng Kinh Quốc, Trưởng phiên dịch khi đó, một người có quan hệ đặc biệt khăng khít với Liên Xô. Ông từng học ở Liên Xô 12 năm, hơn nữa còn lấy vợ là một cô gái Nga.(1) Nói về tình cảm riêng thì nhà họ Tưởng có quan hệ không tồi với Stalin.

Năm 1945, trước khi Mỹ công bố Hiệp định Yalta, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã cử nhân viên tới Moscow tiến hành đàm phán Trung Xô, tôi cũng tham gia. Lần giao thiệp này do ngài Tống Tử Văn, Viện trưởng Hành chính lúc đó lãnh đạo. Ngày 30/6/1945, một chiếc máy bay cất cánh từ Trùng Khánh bay thẳng đi Moscow. Trên máy bay, ngoài các nhà ngoại giao của Chính phủ Trung Hoa Dân quốc như Tống Tử Văn, Hồ Thế Trạch, Thẩm Hồng Liệt, Tiền Xương Chiếu.

Chúng tôi đến Moscow, lần đầu tiên gặp mặt Stalin. Lúc đầu thái độ ông ta vô cùng khách khí Stalin thích họp vào buổi tối. Tối 30/6, hai đoàn Trung Quốc – Liên Xô tiến hành hội đàm sơ bộ ngắn gọn. Trước tiên Bộ trưởng Ngoại giao Tống Tử Văn chuyển tới phía Liên Xô nguyện vọng hợp tác của Tưởng Giới Thạch: Tiên sinh Tôn Trung Sơn để lại di huấn cho các đảng viên Quốc Dân Đảng là cách mạng Trung Quốc muốn thành công thì phải liên hợp với Liên Xô, mong rằng lần hội đàm này của chúng ta có thể tạo cơ sở cho sự xây dựng tình hữu nghị và sự hợp tác dài hạn Trung Quốc-Liên Xô. Stalin tỏ ra rất nhã nhặn: Chính phủ Nga Sa hoàng trước đây muốn chia cắt Trung Quốc. Hiện nay Liên Xô tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, chúng ta nhất định có thể hiểu biết lẫn nhau.

Nhưng đến lúc chính thức bắt đầu đàm phán hai ngày sau, bộ mặt hung ác của ông ta mới lộ ra. Tôi còn nhớ rất rõ là, lúc đó Stalin vứt một tờ giấy vào trước mặt Viện trưởng Tống, thái độ kiêu ngạo, cử chỉ hạ lưu, sau đó nói: Ngài đã đọc cái này chưa?. Vừa nhìn, Viện trưởng Tống đã biết là Hiệp định Yalta, nên trả lời: Tôi chỉ biết nội dung đại khái. Stalin liền nhấn mạnh: Vấn đề ngài bàn, là có thể, nhưng chỉ có thể lấy cái này làm căn cứ. Đây là Roosevelt ký. Vì chúng tôi đã đến Moscow nên đành nhẫn lại đàm phán với ông ta. Giữa đàm phán có hai điểm, hai bên tranh cãi vô cùng dữ dội: thứ nhất, căn cứ Hiệp định Yalta có hai chữ cho thuê. Phụ thân (3) chỉ thị chúng tôi: Không thể dùng hai chữ đó, đó là tiếng quen dùng của chữ nghĩa đế quốc xâm lược người khác. Thứ hai, chúng tôi cho rằng mọi cái gọi là vấn đề đều có thể dần dần thảo luận, nhưng cần phải chú ý đến chủ quyền quốc gia và lãnh thổ hoàn chỉnh của chúng ta. Sau này Stalin đồng ý không dùng hai chữ cho thuê, đối với vấn đề đường sắt Trường Xuân, Lữ Thuận, Đại Liên cũng chịu nhượng bộ;

Về vấn đề độc lập của Ngoại Mông Cổ – thực tế là vấn đề Liên Xô sáp nhập Ngoại Mông Cổ, ông ta kiên trì không chịu nhượng bộ. Chứng bệnh trong đàm phán là ở đó. Đàm phán có thể không có kết quả mà hoàn cảnh trong ngoài của chúng ta lúc này lại vô cùng hiểm ác. Lúc đó phụ thân gửi điện cho chúng tôi, không muốn chính thức đàm phán với Stalin, muốn chúng tôi dùng tư cách cá nhân đến thăm Stalin chuyển nói với ông ta đạo lý vì sao chúng tôi không thể để Ngoại Mông Cổ độc lập. Khi gặp Stalin, ông ta hỏi tôi: Vì sao các anh kiên trì không để Ngoại Mông Cổ độc lập?. Tôi nói: Ngài nên hiểu cho, Trung Quốc chúng tôi mấy năm kháng chiến là để thu hồi lại các lãnh thổ đã mất. Hiện nay Nhật Bản còn chưa đuổi được, Đông Bắc, Đài Loan còn chưa thu hồi. Tất cả những đất đã mất đều vẫn còn trong tay kẻ địch, thế mà lại cắt đi miếng đất lớn như vậy, chẳng phải là làm mất đi ý vốn có của kháng chiến? Quốc dân nước tôi nhất định không thể tha thứ chúng tôi, sẽ nói chúng tôi bán quốc thổ. Trong tình hình như vậy, quốc dân nhất định phản đối chính phủ và chúng tôi không thể kiên trì kháng chiến, vì thế chúng tôi không đồng ý Ngoại Mông Cổ về với Liên Xô.

Sau khi tôi nói xong, Stalin nói tiếp: Câu nói vừa rồi của anh có đạo lý, không phải là tôi không biết. Thế nhưng anh cần hiểu rằng hôm nay không phải là tôi muốn giúp đỡ mà là anh đến để muốn tôi giúp đỡ. Nếu nước anh có lực lượng tự mình có thể đánh Nhật, tự nhiên tôi sẽ không đư ra yêu cầu. Hiện nay, anh không có lực lượng đó mà còn nói những lời như vậy, có nghĩa là nói bừa!. Thái độ lúc đó của ông ta vô cùng ngạo mạn, tôi cũng nói thẳng vào vấn đề với ông ta: Vì sao ngài nhất định phải kiên trì Ngoại Mông Cổ độc lập. Ngoại Mông Cổ tuy đất rộng, nhưng dân số rất ít, giao thông không thuận tiện và cũng chẳng có sản phẩm xuất khẩu gì. Ông ta nói toạc ra: Nói thật với anh, sở dĩ tôi muốn Ngoại Mông Cổ, hoàn toàn là đứng trên quan điểm chiến lược quân sự mà muốn địa phương đó thôi. Ông ta lấy bản đồ ra chỉ vào đó nói: Nếu có một lực lượng quân sự từ Ngoại Mông Cổ tiến công vào Liên Xô, một khi đường sắt Siberia bị cắt, nước Nga sẽ hết đời.

Tôi lại nói với ông ta: Hiện nay ngài chả cần phải lo lắng gì về quân sự, nếu ngài tham gia tác chiến với Nhật, sau khi đánh bại Nhật, chúng không thể đứng dậy được nữa, chúng chẳng còn lực lượng để chiếm lĩnh Ngoại Mông Cổ, để xâm lược vùng căn cứ địa của Liên Xô. Điều ngài lo lắng tấn công Liên Xô từ Ngoại Mông Cổ, ngoài Nhật Bản ra chỉ còn Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc và ngài đã ký điều ước hữu hảo, ngài nói 25 năm, chúng tôi thêm 5 năm nữa là 30 năm, Trung Quốc cũng chẳng đánh các ngài. Giả sử Trung Quốc muốn công kích các ngài cũng vẫn chẳng có lực lượng, chắc ngài rất rõ.

Stalin lập tức phê bình những lời vừa nói của tôi: Những lời anh nói rất không đúng. Thứ nhất, anh nói Nhật Bản sau khi bị đánh bại sẽ không chiếm lĩnh lại Ngoại Mông đánh nước Nga, nhất thời có thể như vậy, nhưng không mãi như vậy. Nếu Nhật Bản bị đánh bại, dân tộc Nhật này vẫn có thể đứng dậy. Tôi liền truy hỏi ông ta: Vì sao vậy?. Ông ta trả lời: Lực lượng nào trong thiên hạ cũng để có thể bị tiêu diệt, duy chỉ có lực lượng của dân tộc là không thể bị tiêu diệt, nhất là dân tộc như dân tộc Nhật, càng không thể tiêu diệt.

Tôi lại hỏi ông ta: Nước Đức đã đầu hàng, ngài chiếm một phần, liệu nước Đức có đứng dậy?. Ông ta nói: Tất nhiên phải đứng dậy. Tôi lại hỏi tiếp: Giả sử Nhật Bản đứng dậy được cũng không thể nhanh như thế, trong thời gian mấy năm này ngài có thể không đề phòng Nhật Bản. Ông ta nói: Nhanh cũng thế mà chậm cũng thế, rốt cuộc là vẫn sẽ đứng dậy, nếu giao Nhật Bản cho người Mỹ quản, sau 5 năm sẽ đứng dậy. Tôi nói: Cho người Mỹ quản, 5 năm sẽ đứng dậy, nếu để cho ngài quản thì sao?. Ông ta trả lời: Tôi mà quản nhiều nhất cũng không quản quá 5 năm. Sau đó ông ta không bình tĩnh nữa, biểu thị trực tiếp: Không lấy Ngoại Mông Cổ không được.

Tống Tử Văn nắm lấy lời văn phải duy trì hiện trạng của Ngoại Mông Cổ trong hiệp định Yalta để đấu lý. Ông kiên trì nói hiện trạng đó tức là chủ quyền của Ngoại Mông Cổ vẫn thuộc về Trung Quốc. Còn Stalin thì nói rõ Liên Xô yêu cầu Trung Quốc thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. Hai cách nói này tuy diễn tả cùng một sự thật nhưng ảnh hưởng thì lại khác nhau xa. Dĩ nhiên Tưởng Giới Thạch hiểu rõ sự hơn thiệt trong đó. Thấy trên bàn đàm phán đã tạm thời bất đồng, Tưởng Giới Thạch bèn điện cho Tưởng Kinh Quốc, bảo Quốc lấy danh nghĩa cá nhân gặp riêng Stalin.

Tưởng Kinh Quốc nhớ lại: Stalin rất nghiêm túc nói với tôi: Tôi không coi anh là một nhân viên ngoại giao để nói chuyện, tôi có thể nói với anh: điều ước là không thể tin cậy được. Hơn nữa, anh mắc một sai lầm, anh nói Trung Quốc không có lực lượng xâm lược nước Nga, hôm nay có thể nói như vậy, nhưng chỉ cần Trung Quốc các anh thống nhất, so với bất cứ nước nào cũng tiến bộ nhanh hơn. Đây đúng là câu nói gan ruột của Stalin. Vì thế ông ta muốn xâm lược chúng ta nhưng lại sợ chúng ta hùng mạnh lên, cho nên chỉ cần mục đích, bất chấp thủ đoạn, trăm phương ngàn kế áp bức, phân hóa và ly gián chúng ta.

Stalin lại nói tiếp: Anh nói, Nhật Bản và Trung Quốc đều không có lực lượng chiếm lĩnh Ngoại Mông Cổ để đánh nước Nga, thế nhưng không thể nói không có lực lượng thứ ba’ đứng ra làm như vậy. Lực lượng đó là ai? Ông ta cố ý không nói trước. Tôi liền hỏi lại: Có phải là nước Mỹ không?. Ông ta trả lời: Đương nhiên. Tôi thầm nghĩ, người Mỹ đã ký Hiệp định Yalta mang lại cho họ rất nhiều thuận tiện và chỗ tốt đẹp, nhưng trong mắt Stalin, vẫn chưa thể quên nước Mỹ là kẻ thù của ông ta! (4)

Hôm sau, Tống Tử Văn gửi điện cho Tưởng Giới Thạch, báo cáo tình hình hội đàm và đề nghị Tưởng xem xét mấy phương án như sau: Thứ nhất, Trung Quốc ký hiệp định liên minh với Liên Xô, cho phép Liên Xô đóng quân tại Mông Cổ; thứ hai, để Ngoại Mông Cổ thực hiện tự trị cao độ; thứ ba, Ngoại Mông Cổ có quyền tự chủ về quân sự, nội chính và ngoại giao, nhưng không có tính chất là một nước cộng hòa liên bang Xô Viết. Người Mỹ rất quan tâm tới cuộc đàm phán Trung Quốc-Liên Xô. Tổng thống Truman bảo Bộ trưởng Ngoại giao Byrnes chuyển tới Chính phủ Trung Quốc ý kiến như sau: Chưa thảo luận cách giải thích về địa vị của Ngoại Mông Cổ trong hiệp định Yalta; Chính phủ Mỹ cho rằng tuy về pháp lý thì chủ quyền Ngoại Mông Cổ vẫn thuộc Trung Quốc, nhưng trên thực tế chủ quyền ấy chưa được hành xử. Gặp riêng Stalin xong, Tưởng Kinh Quốc lại đến gặp Petrov, Đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc. Petrov cũng khuyên Trung Quốc nên thỏa hiệp: Trên thực tế Ngoại Mông Cổ đã độc lập. Chính phủ Trung Quốc chỉ cần thừa nhận một chuyện đã rồi. Nếu Trung Quốc kiên trì không thừa nhận địa vị độc lập của Ngoại Mông Cổ thì chúng ta chẳng còn cách nào đàm phán tiếp.

Chẳng còn cách nào, Tống Tử Văn bèn thỉnh thị Tưởng Giới Thạch và nhận được chỉ thị như sau: Xuất phát từ sự hy sinh lớn nhất và từ lòng chân thành, giờ đây Chính phủ Trung Quốc muốn tìm cách giải quyết căn bản mối quan hệ Trung Quốc-Liên Xô, quét sạch mọi tranh chấp và chuyện không vui có thể có từ nay về sau, qua đó giành được sự hợp tác triệt để giữa hai nước nhằm hoàn thành chí nguyện để lại của tiên sinh Tôn Trung Sơn lúc sinh thời là hợp tác với Liên Xô. Nhu cầu lớn nhất của Trung Quốc là tìm kiếm sự toàn vẹn chủ quyền hành chính lãnh thổ và sự thống nhất thực sự trong nước, vì thế có ba vấn đề tha thiết mong Chính phủ Liên Xô đồng tình và viện trợ, đồng thời có phúc đáp cụ thể và có quyết tâm. Tưởng Giới Thạch quyết định thỏa hiệp, ông đề xuất ba vấn đề như sau: Thứ nhất, bảo đảm sự nguyên vẹn chủ quyền của Trung Quốc đối với lãnh thổ vùng Đông Bắc; Trung Quốc và Liên Xô cùng sử dụng chung hai cảng Lữ Thuận và Đại Liên trong thời hạn 30 năm, quyền sở hữu cảng và đường sắt (5) thuộc về Trung Quốc. Thứ hai, dãy núi Antai (6) là một bộ phận của Tân Cương. Thứ ba, Liên Xô chỉ có thể viện trợ Quốc Dân Đảng, không được viện trợ đảng Cộng sản Trung Quốc.

Để đổi lấy ba điều kiện đó, Tưởng Giới Thạch tỏ ý: Chính phủ Trung Quốc mong rằng sau khi đánh bại Nhật và sau khi Chính phủ Liên Xô chấp nhận ba điều kiện nói trên, [chúng tôi] sẽ đồng ý Ngoại Mông Cổ độc lập. Trong hồi ký, Tưởng Kinh Quốc có nói rõ thêm về chỉ thị của bố mình: cái Tưởng Giới Thạch nói đồng ý Ngoại Mông Cổ độc lập thì phải được nhân dân Ngoại Mông Cổ bỏ phiếu tán thành và phải bỏ phiếu theo nguyên tắc của chủ nghĩa Tam Dân. Nếu kết quả bỏ phiếu của công dân Ngoại Mông Cổ nghiêng về phía đồng ý độc lập thì Chính phủ Quốc dân mới có thể thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. Dù thế nào đi nữa, bao giờ cũng phải giữ thể diện chứ. Stalin đồng ý với các yêu cầu của Tưởng Giới Thạch.

Cuối cùng trải qua rất nhiều lần đàm phán, Điều ước hữu hảo đồng minh Trung – Xô đã được ký. Thế nhưng đối với điều ước này, phụ thân lúc đó đã có một chỉ thị về nguyên tắc: Cho phép Ngoại Mông Cổ độc lập nhưng nhất định cần chú thích rõ, phải trải qua công dân bỏ phiếu, hơn nữa phải căn cứ vào nguyên tắc chủ nghĩa tam dân để bỏ phiếu. Có thể coi là Stalin đồng ý nguyên tắc này. Tôi còn nhớ khi ký Điều ước hữu hảo đồng minh Trung – Xô, đại biểu Liên Xô lại cố tình kiếm chuyện. Chủ quản Vụ Viễn Đông Bộ Ngoại giao của Stalin thương lượng cùng tôi, yêu cầu trong điều ước có thêm một tấm bản đồ, đồng thời trên dải vùng ven biển cảng Lữ Thuận vẽ một đường kẻ đen, đại khái cách cảng một cự ly 20 hải lý, trong đường kẻ đó phải thuộc về cảng Lữ Thuận. Theo quan điểm của luật quốc tế, phạm vi công hải có qui định nhất định, nghĩa là cách lục địa cự ly nhất định, yêu cầu này của phía Nga rõ ràng là không hợp lý. Vì vấn đề này tranh chấp rất lâu, từ bốn giờ rưỡi chiều đến hai giờ đêm, vẫn chưa giải quyết xong.

Tôi mất bình tĩnh nói: Ngài muốn vẽ đường kẻ, ngài cứ vẽ theo ý ngài, chứ tôi không thể vẽ. Ông ta nói: Không vẽ đường kẻ này, không ký xong điều ước. Tôi nói: Ký không xong, tôi không chịu trách nhiệm, vì tôi không có quyền lực đó. Ông ta nói: Tôi có căn cứ. Tôi nói: Ngài có căn cứ gì?. Ông ta lấy ra một tấm bản đồ, đó là tấm bản đồ cũ của cảng Lữ Thuận nước Nga thuê thời Sa hoàng, trên tấm bản đồ đó có vẽ một đường màu đen, ông ta chỉ vào đó nói: Căn cứ vào tấm bản đồ này, tôi đòi phải vẽ đường đó.

Tôi cảm thấy vô cùng tức cười, vì thế châm chọc họ: Đây là cái từ thời Sa hoàng, chẳng phải các ngài đã tuyên bố từ lâu, hủy bỏ mọi điều ước có từ thời Sa hoàng à? Từ bỏ mọi quyền lợi à? Bây giờ ngài lại mang cái đồ cổ đó ra, chẳng phải có nghĩa là vẫn thừa nhận chính phủ Sa hoàng mà các ngài đã đánh đổ ư?. Ông ta có chút nóng vội nói: Anh không thể sỉ nhục chính phủ Liên Xô chúng tôi. Tôi nói: Vì sao ngài lại căn cứ vào cái thứ đó để đàm phán? Chẳng phải là như nói với toàn thế giới rằng: Các ngài vẫn giống như chính phủ Sa hoàng?. Ông ta nói: Anh đừng tranh cãi ầm ĩ, cơn nóng giận của anh quá lớn đấy. Tôi nói: Ngài muốn ký điều ước là có thể, nhưng bất kể như thế nào, điều ước đó không thể vẽ con đường đó. Sau một hồi tranh cãi gay go, tấm bản đồ tuy có đính kèm nhưng con đường đó trước sau đều không được vẽ ra. Từ sự kiện này chúng tôi hoàn toàn hiểu được, Stalin vốn là Sa hoàng tái thế.

Ngày 14/8/1945, Hiệp ước đồng minh hữu hảo Trung Quốc-Liên Xô được ký kết tại Moscow. Tống Tử Văn từ chối ký và từ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Vương Thế Kiệt tiếp quản chức vụ này, thay mặt Trung Quốc ký Hiệp ước đó. Hôm sau Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Hiệp ước đã được ký, mọi chuyện sau đó không thể nào cứu vãn được nữa. Ngày 20/10/1945, Ngoại Mông Cổ tiến hành bỏ phiếu trưng cầu ý dân. Tưởng Giới Thạch cử Thứ trưởng thường trực Bộ Nội chính Lôi Pháp Chương sang quan sát cuộc bỏ phiếu. Tưởng Giới Thạch dặn Lôi Pháp Chương: Chỉ quan sát thôi, không được can thiệp, cũng không nói bất cứ điều gì. Về sau Lôi Pháp Chương kể lại tình hình bỏ phiếu ông quan sát thấy: “Cuộc bỏ phiếu này được coi là hành động của nhân dân Ngoại Mông Cổ bày tỏ với thế giới nguyện vọng độc lập của họ. Trên thực tế cuộc bỏ phiếu đó đặt dưới sự giám sát của các cán bộ Chính phủ Ngoại Mông Cổ, dùng hình thức bỏ phiếu có ghi tên để thể hiện có tán thành độc lập hay không, vì thế nhân dân thực sự khó có thể được tự do bày tỏ ý chí của mình. Kết quả bỏ phiếu cho thấy tổng cộng có 490 nghìn cử tri, 98% tham gia bỏ phiếu, nhất trí tán thành Ngoại Mông Cổ độc lập. Ngày 5/1/1946, Chính phủ Quốc dân tuyên bố thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập.

Năm 1949, Tưởng Giới Thạch thua trận chạy ra Đài Loan. Tưởng canh cánh trong lòng chuyện Stalin nuốt lời hứa Không viện trợ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1952, Tưởng Giới Thạch gửi đơn tố cáo tới Liên Hợp Quốc, lên án Liên Xô vi phạm hiệp ước, yêu cầu hủy bỏ Hiệp ước đồng minh hữu hảo Trung Quốc-Liên Xô. Liên Hợp Quốc xác nhận Liên Xô đã làm trái với quy định của Hiệp ước đó và phán quyết Hiệp ước này mất hiệu lực. Năm 1953, tại Đại hội lần thứ VII của Quốc Dân Đảng, Tưởng Giới Thạch tuyên bố không thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập và đau xót kiểm điểm: Tuy rằng quyết sách thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập đã được Trung ương Đảng chính thức nhất trí tán thành và thông qua nhưng cá nhân tôi vẫn muốn chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc này. Có điều là khi ấy tôi chỉ có thể đưa ra quyết sách như vậy về vấn đề Ngoại Mông Cổ nhằm bảo đảm kháng chiến thắng lợi, giành được cơ hội xây dựng đất nước. Đây là trách nhiệm của tôi, cũng là tội của tôi.

Nhưng khi ấy Quốc Dân Đảng đã chẳng còn sức để thu hồi Ngoại Mông Cổ nữa. Năm 1950, Mao Trạch Đông thăm Liên Xô, cùng Stalin ký Hiệp ước đồng minh hỗ trợ hữu hảo Trung Quốc-Liên Xô. Bản Hiệp ước này cũng thừa nhận địa vị độc lập của nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ. Tháng 8/1955, có 18 quốc gia xin gia nhập Liên Hợp Quốc, trong đó có Cộng hòa nhân dân Mông Cổ. Đây là kết quả sự thỏa thuận ngầm giữa Mỹ và Liên Xô. Thế nhưng lúc ấy địa vị hợp pháp của Trung Quốc – một trong 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc – vẫn thuộc về chính quyền Đài Loan. Và thế là cuối cùng Tưởng Giới Thạch có dịp mở miệng: trước ngày Liên Hợp Quốc bỏ phiếu, Tưởng kiên quyết tỏ ý chống lại việc Liên Hợp Quốc kết nạp Mông Cổ. Tổng thống Mỹ Eisenhower vội gửi thư cho Tưởng Giới Thạch, đề nghị Tưởng không nên phản đối việc cho Mông Cổ vào Liên Hợp Quốc: [Trung Quốc] có thể bỏ phiếu tán thành, có thể bỏ phiếu trắng … điều này rất quan trọng cho cả hai bên chúng ta.

Tưởng Giới Thạch không đồng ý với đề nghị của Eisenhower. Sắp tới ngày bỏ phiếu. Eisenhower một lần nữa viết thư cho Tưởng Giới Thạch, tuyên bố: nếu Tưởng lạm dụng quyền phủ quyết thì đó sẽ là sự chống lại ý nguyện của đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an. Giọng điệu cảnh cáo ấy đã làm Tưởng Giới Thạch nổi giận. Hôm sau Tưởng ra tuyên bố sẽ bỏ phiếu phản đối, và đã nói là làm – tại cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 13/12/1955, do Trung Quốc bỏ phiếu phản đối, Mông Cổ chưa được kết nạp vào Liên Hợp Quốc như họ mong muốn.

Năm 1961, Mông Cổ được gia nhập Liên Hợp Quốc. Năm đó, do chịu sức ép của cộng đồng quốc tế, nhất là trong tình hình đang bị chính quyền đại lục của Mao Trạch Đông tranh giành địa vị hợp pháp của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc, chính quyền Đài Loan đã thỏa hiệp, không tham gia cuộc bỏ phiếu tại Đại hội đồng năm ấy. Ngày 27/10/1961, Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết số 1630 đồng ý tiếp nhận Mông Cổ vào Liên Hợp Quốc.

Chú thích:

1/ Tưởng Kinh Quốc là con trai Tưởng Giới Thạch, tổng thống Trung Hoa Dân Quốc.

2/ Tức thủ tướng chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân đảng. Lúc này về danh nghĩa Trung Hoa Dân Quốc đang đứng về phe Đồng minh chống Nhật.

3/ Chỉ Tưởng Giới Thạch.

4/ Để tranh thủ Liên Xô tuyên chiến với Nhật, tại hội nghị Yalta, Roosevelt và Churchill đã nhượng bộ Stalin, đồng ý để LX tiếp quản các nước được LX giải phóng, vì thế các nước này đều theo LX; và LX cũng được hưởng các quyền lợi nước Nga Sa hoàng từng hưởng tại TQ; ngoài ra còn được kiểm soát quần đảo Kuril của Nhật.

5/ Con đường sắt do Chính phủ Nga Sa hoàng xây dựng, từ Nga đi qua Mãn Châu Lý đến Cáp Nhĩ Tân, Tuy Phân Hà (dài 1481 km), và đoạn đường sắt từ Cáp Nhĩ Tân đến Lữ Thuận-Đại Liên (987 km); TQ gọi là đường sắt Trung Trường. Cảng Lữ Thuận (Port Athur) trong chiến tranh bị Nhật chiếm, ngày 22/8/1945 được quân đội Liên Xô giải phóng. Theo hiệp định Yalta, LX được quyền sử dụng đường sắt Trung Trường và quân cảng Lữ Thuận. Năm 1955, LX trả lại tất cả cho TQ.

6/ Tiếng Anh là Altay Mountains, dài 2000 km, phần trên đất TQ dài 500 km.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *