TRẦN KHÁNH DƯ – DANH TƯỚNG VÌ TÌNH YÊU MẤT TẤT CẢ

Trong số các triều đại phong kiến của dân tộc Việt thì nhà Trần luôn nhận được sự quan tâm bậc nhất của công chúng, những bàn cãi xoay quanh vương triều này cho đến ngày nay vẫn còn vô cùng sôi nổi. Suốt 175 năm (1225-1400) trị vì, nhà Trần không chỉ dẹp nội loạn, thống nhất sơn hà mà còn bình ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Là một trong 3 danh tướng kinh qua cả 3 lần chống quân Mông – Nguyên, Trần Khánh Dư được người đời sau truyền tụng không chỉ vì trí tuệ tài ba mà còn cảm thán ông vì tình yêu mà bất chấp tất cả.

VỊ TƯỚNG TÀI TRẺ TUỔI

Tương truyền Trần Thủ Độ có người em trai cùng cha khác mẹ là Minh Huệ Vương Trần Phó Duyệt, sớm theo Trần Lý dẹp giặc lập công. Ông lập được nhiều chiến công hiển hách và cũng bỏ mạng trên chiến trường. Vua Trần Thái Tông cảm thương nỗi mất mát ấy nên nhận nuôi con trai ông là Trần Khánh Dư khi ấy mới 3 tuổi, cũng chính là Nhân Huệ Vương sau này. Nhiều tài liệu đều ghi lại Trần Khánh Dư là người văn võ song toàn, không chỉ giỏi dẫn binh đánh giặc mà còn tài hoa, phong nhã. Những buổi đi săn của ông với hình ảnh oai vệ ngồi trên mình ngựa trắng, chú chim ưng lông đỏ mỏ quặp đậu trên vai đã làm xiêu lòng biết bao cô gái. Chính vì nổi bật và thu hút như thế nên không lạ khi rất nhiều sử liệu ghi lại tật xấu của ông liên quan đến tình cảm trai gái. Một trong những sự kiện chấn động nhất có thể kể đến là chuyện tình đầy ngang trái của ông với công chúa Thiên Thụy – chị ruột của vua Trần Nhân Tông.

ANH HÙNG KHÓ QUA ẢI MỸ NHÂN

Quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần đầu tiên năm 1257, trọng trận chiến này Trần Khánh Dư dẫn binh bảo vệ phía tây Thăng Long, đánh thắng quân Nguyên Mông liên tiếp 10 trận. Sau cuộc chiến ông được phong Phiêu kỵ đại tướng quân, trở thành con nuôi của vua Trần Thánh Tông với tước hiệu Nhân Huệ Vương. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Lần trước, quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc. Thượng Hoàng khen ông có trí lược, nhận làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi của Vua)..”

Có thể bắt nguồn từ đặc ân được tự do ra vào cung cấm đã tạo cơ hội để ông gần gũi và nảy sinh tình cảm với nàng công chúa xinh đẹp Thiên Thụy (tên húy là Quỳnh Trân) – khi ấy vẫn là viên minh châu trong tay vua Trần Thánh Tông. Công chúa Thiên Thụy từ nhỏ đã được vua cha thương yêu dạy bảo hết lòng, nàng nhanh chóng bộc lộ thiên tư thông minh, thạo cầm kỳ thi họa. Khác với truyền thống võ tướng oanh liệt của dòng tộc, ở nàng toát lên đức hạnh từ bi và lòng nhân ái cao thượng.

Trong Ngọc phả công chúa Quỳnh Trân Trần Triều có ghi: “Vua Thánh Tông đem chuyện kể lại cho cung phi là Vũ Thị Ngọc Lan nghe. Sau nàng có thai 8 tháng 20 ngày, sinh hạ được một gái, lúc sinh ra nghe trên có tiếng tiêu thiều nhã nhạc, hương lan tỏa mùi sực nức báo điềm lành. Người con gái mới sinh sắc như bình bạc, mặt tựa gương báu, thân thể mang vẻ hao nở sáng trăng, dung nghi giống như xuân sơn, thu thủy, vẻ người đoan chính. Tục nhà Trần sinh con trai gọi là Hoàng tử, con gái gọi là Ả nương (Ả nàng). Do đó gọi tên là Ả nương Quỳnh Trân…”

Khánh Dư và Thiên Thụy từ nhỏ đã có nhiều cơ hội gặp gỡ và cùng nhau trưởng thành nên tình cảm của hai người cứ thế lớn dần lên một cách tự nhiên. Tuy nhiên niềm vui ngắn chẳng tày gang, công chúa Thiên Thụy tuân theo lệnh vua cha về làm vợ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn – con trai Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Những tưởng chuyện tình của họ cứ thế kết thúc nhưng diễn biến sau đó lại càng táo bạo, khiến cho người người không thôi cảm thán hoang đường. Trần Khánh Dư và Thiên Thụy công chúa vẫn tiếp tục gặp gỡ yêu đương bất chấp tất cả. Những lời bàn tán ra vào không ngớt khiến cho người ngoài cuộc thấp thỏm lại dường như chẳng ảnh hưởng gì đến họ. Chỉ khi mọi việc lỡ làng, nhà chồng dâng tấu lên vua yêu cầu một câu trả lời thỏa đáng thì mới ngăn cách được hai người. Lúc bấy giờ Trần Thánh Tông nhận tấu chương mà tiến thoái lưỡng nan. Một bên là nỗi niềm thương yêu chị ruột, một bên là quý trọng vị tướng tài ba, còn lại là tình sâu nghĩa nặng với Hưng Đạo Vương. Sau nhiều suy nghĩ ông quyết định xử phạt Trần Khánh Dư bảo toàn cho trăm họ. Vị danh tướng một thời bị tước hết quyền lực và tài sản, chỉ có thể nhờ chút tình của nhà vua giữ lại mạng sống, trở về làm một kẻ bán than bần hàn.

Chỉ đến khi nước ta lại một lần nữa rơi vào nguy cơ xâm lược cuả quân Mông – Nguyên thì Trần Khánh Dư mới lại có cơ hội lập công chuộc tội. Tháng 10/1282, khi nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than, vua Trần Nhân Tông gặp Khánh Dư (khi đó Trần Thánh Tông là Thái Thượng hoàng). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, lúc thuyền của vua đỗ ở bến Bình Than thì bắt gặp một thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua đoán là Khánh Dư, sai người chèo thuyền đuổi theo. Ông được vua điều trở về triều đình giúp sức, lập được nhiều công lao.

Năm 1287 trong trận đánh quân Mông – Nguyên lần thứ 3, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn (Quảng Ninh ngày nay), Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn lúc đó là Trần Khánh Dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân Trần đã đánh tan đoàn thuyền chở 170.000 thạch của nhà Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy. Chiến thắng của Trần Khánh Dư khiến quân Nguyên rơi vào thế bị động. Trên đường rút lui, chúng đã bị Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão đánh cho tan tác. Thoát Hoan chui vào ống đồng trốn về nước.

HỒI KẾT CHO CUỘC TÌNH BUỒN NHẤT TRIỀU TRẦN

Chính nhờ chiến thắng này mà vị tướng tài ba trở về đúng vị trí của mình. Thế nhưng, như một lời nguyền khó giải, Trần Khánh Dư và công chúa Thiên Thụy lại một lần nữa rơi vào lưới tình trầm luân không lối thoát. Lần này, Trần Nhân Tông buộc lòng phải lệnh cho Thiên Thụy xuất gia về một vùng quê hẻo lánh để ngăn cách hai người. Bà chuyên tâm tu hành tại 1 am nhỏ ở khu vực ven sông Văn Úc (ven biển Đồ Sơn ngày nay). Năm 1285 Công chúa Thiên Thụy được chọn để dâng cho Thoát Hoan cầu hòa, mục đích để hoãn binh. Thế nhưng, công chúa cương quyết từ chối, Vua không còn cách nào khác đành để chị trở về chốn tu hành. Từ đó Thiên Thụy một lòng quy Phật, không còn nghĩ đến ái tình nam nữ. Thay vào đó, bà bắt đầu mở chợ cho dân buôn bán, lập điền trang trồng cấy, thu hút dân các nơi về sinh sống và cũng xây dựng am nhỏ dần có quy mô của 1 ngôi chùa. Công chúa vẫn thường quan tâm đến đời sống dân chúng, phát chẩn cứu người nghèo, dạy dân khai khẩn, trồng trọt, lập làng lập xóm. Năm mất mùa, bà sẽ xin vua miễn thuế cho dân trong vùng, thế nên dân chúng đều rất biết ơn bà. Ngày sau, người ta tôn bà là Thiền Đức đại ni. Khi bà viên tịch, dân chúng tôn bà làm phúc thần, thờ trong đền Mõ, cũng là nơi bà từng tu hành. Các triều đại sau này đã phong cho bà là Ả nương Thiên Đức Quỳnh Trân công chúa để tưởng nhớ công ơn lúc sinh thời của bà. Ngôi chùa bà tu hành hiện nay đã trở thành một di tích lớn được nhà nước công nhận. Trong sân đền vẫn còn cây gạo đến nay đã hơn 700 tuổi do chính tay bà trồng với ước mong dân chúng luôn được sung túc, bình an.

Chuyện tình cuồng nhiệt mà bi thảm ấy cuối cùng cũng đến hồi kết. Đúng hay sai, phải hay trái đều đã trở thành quá khứ, sớm bị lớp bụi thời gian chôn vùi. Ngày nay chúng ta lấy ra bàn luận chỉ có thể dựa trên những ghi chép vô thưởng vô phạt còn phân định đúng sai lại là chuyện chẳng thể nói rõ bởi người trong cuộc đã ra người thiên cổ mà chúng ta chỉ là hậu nhân ngưỡng vọng về quá khứ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *