Chủ nhật, ngày 22/02/2026 15:45 GMT+7
Tào Nga Chủ nhật, ngày 22/02/2026 15:45 GMT+7
“Tôi luôn ủng hộ các gia đình người Việt Nam hãy tập trung rèn con thành thạo tiếng mẹ đẻ trước. Tiếng Anh hay ngoại ngữ khác cứ cho trẻ làm quen sớm cũng được nhưng không đặt áp lực phải thành thạo”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền cho biết.
Chuyên gia Giáo dục Nguyễn Thị Thu Huyền tốt nghiệp thạc sĩ Giáo dục học tại Đại học Durham (Anh), tiến sĩ Giáo dục học tại Đại học East Anglia (Anh), được nhiều phụ huynh, trường học biết đến trong vai trò là lãnh đạo, cố vấn giáo dục mầm non và phổ thông, nêu ý kiến: “Phụ huynh, nhà trường hiện nay đừng nhồi học sinh tiếng Anh mà quên đi tiếng Việt”.
Tiến sĩ Huyền lý giải: “Là người rất đam mê giáo dục song ngữ, mục tiêu của tôi là thúc đẩy việc giảng dạy hiệu quả tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai cho trẻ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi coi nhẹ tiếng Việt. Thậm chí, tôi luôn ủng hộ các gia đình người Việt Nam hãy tập trung rèn con thành thạo tiếng mẹ đẻ trước. Tiếng Anh hay ngoại ngữ khác cứ cho trẻ làm quen sớm cũng được nhưng không đặt áp lực phải thành thạo”.

Theo Tiến sĩ Huyền, với trẻ học mầm non song ngữ, dù phần lớn thời gian và hoạt động vẫn diễn ra bằng tiếng mẹ đẻ nhưng khi lên hết tiểu học và tiếp tục theo chương trình song ngữ, các em đã có thể giao tiếp tiếng Anh thành thạo và dùng tiếng Anh hiệu quả để học các môn như Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội. Về sau, nếu chuyển sang học hoàn toàn chương trình quốc tế ở bậc học cao hơn, các em vẫn đáp ứng được yêu cầu. Dù ban đầu các em có thể gặp chút khó khăn về ngôn ngữ nhưng nếu nền tảng kiến thức các môn học bằng tiếng mẹ đẻ vững chắc thì rào cản ngôn ngữ chỉ là tạm thời.
“Thế nhưng, tôi chứng kiến phụ huynh đến các trường song ngữ đều chỉ chăm chăm hỏi số giờ tiếng Anh, giáo viên có phải người bản ngữ không mà không chú tâm vào giáo viên người Việt, người kết nối về ngôn ngữ, cảm xúc, văn hoá dễ dàng hơn với con của mình.
Thực chất, tiếng mẹ đẻ không dễ phát triển ở trình độ cao và cũng dễ mai một nếu không coi trọng. Sự đứt gãy về ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ có thể đứt gãy luôn kết nối văn hoá, tình thân và khủng hoảng về danh tính/bản sắc của trẻ. Cứ hình dung một đứa trẻ người Việt, sống trong cộng đồng và gia đình người Việt đều nói tiếng Việt, giữ nếp sống người Việt mà bé lại không giao tiếp được bằng tiếng Việt, không cảm nhận được cảm xúc, không nhận thức đầy đủ được các khía cạnh văn hoá dân tộc thì bé có lạc lõng không?”, Tiến sĩ Huyền cho hay.
Theo dẫn chứng tài liệu “Bilingual Children’s Mother Tongue: Why Is It Important for Education?” (Tiếng mẹ đẻ của trẻ song ngữ: Tại sao điều này quan trọng trong giáo dục) của Tiến sĩ Jim Cummins, Tiến sĩ Huyền đúc kết:
Giữ ngôn ngữ mẹ đẻ là quyền cơ bản của trẻ
Ngôn ngữ mẹ đẻ không chỉ là phương tiện giao tiếp – nó là cầu nối giữa trẻ với gia đình, với văn hóa và với bản sắc cá nhân. Việc học ngoại ngữ nếu làm mất đi tiếng mẹ đẻ không chỉ gây ảnh hưởng đến cá nhân trẻ mà còn phá vỡ mối liên hệ văn hóa với cha mẹ và ông bà. Chúng ta đã có vô số trường hợp này giai đoạn đầu khi các trường quốc tế đơn ngữ mở ra. Mô hình song ngữ ra đời ở Việt Nam là để giải quyết chính vấn đề này.
Bilingualism – song ngữ có lợi cho tư duy và học tập
Nghiên cứu cho thấy trẻ phát triển song ngữ (tiếng mẹ đẻ + ngôn ngữ thứ hai) có hiểu biết sâu hơn về bản chất của ngôn ngữ, xử lý ngôn ngữ linh hoạt hơn và thường có khả năng tư duy phản biện tốt hơn so với trẻ chỉ biết một ngôn ngữ. 
Nền tảng tiếng mẹ đẻ thúc đẩy học ngoại ngữ
Trẻ có nền tảng vững chắc trong tiếng mẹ đẻ thường học tốt hơn ngôn ngữ thứ hai sau này. Kỹ năng đọc – viết, vốn từ và khái niệm đã được hình thành từ tiếng mẹ đẻ giúp trẻ dễ tiếp thu các cấu trúc ngôn ngữ mới. 
“Tôi từng đồng hành với giáo viên ở một trường về thiết kế chương trình tiếng Anh và tiếng Việt song hành, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh về chương trình tiếng Việt và ngược lại. Phản hồi của họ cho thấy, học sinh hiểu nhanh hơn và ghi nhớ dễ dàng hơn các điểm ngữ pháp trong tiếng Anh”, Tiến sĩ Huyền cho biết.
Hai ngôn ngữ hỗ trợ lẫn nhau
Khi cả tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai đều được phát triển (chẳng hạn trong một chương trình giáo dục song ngữ), kỹ năng và tư duy ngôn ngữ có thể “chuyển giao” giữa hai ngôn ngữ, làm cho trẻ càng học càng mạnh ở cả hai hệ thống.
Các khó khăn giai đoạn đầu như trộn ngôn ngữ hay nói/viết câu lộn xộn cấu trúc giữa hai bên chỉ ngắn hạn, đừng lo lắng quá mức và cố sửa một cách gay gắt với trẻ.
Ngôn ngữ mẹ đẻ rất dễ bị mất nếu không được duy trì
Nếu môi trường học tập và xã hội chỉ ưu tiên ngôn ngữ thứ hai, trẻ có thể mất khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ nhanh chóng, dẫn đến mất đi phần bản sắc và mối liên hệ sâu sắc với văn hóa gia đình.
Nhất là với tiếng Anh, ngắn gọn, dễ dàng về thanh điệu hơn, nguồn tài liệu hấp dẫn ở nhiều kênh khiến trẻ nếu được cả nhà trường, cha mẹ cổ vũ dùng tiếng Anh thay cho tiếng Việt thì trẻ sẽ chọn tiếng Anh.
“Trong bối cảnh Chính phủ định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, thậm chí có những thảo luận về mô hình sử dụng tiếng Anh tới 75% thời lượng tương tác ở trường công lập, việc dạy và học tiếng Việt là điều không thể không lo ngại. Dù hành trình song ngữ với đa số trẻ em Việt Nam vẫn còn rất dài và các nhà quản lý, giáo viên, phụ huynh đều mong con “nói tiếng Anh như gió”, nhưng triết lý và quan điểm về giáo dục song ngữ cần được xác định rõ ngay từ đầu. Nếu không, về sau chúng ta sẽ phải vất vả sửa chữa nhiều hệ lụy. Khi đó, chưa chắc trẻ đã thực sự giỏi tiếng Anh, trong khi sự suy giảm tiếng Việt lại là hệ quả dễ thấy và khó khắc phục”, Tiến sĩ Huyền cho hay.