Tibetan Canon

Phật giáo Tây Tạng bắt nguồn từ các tu viện của Ấn Độ như Nālandā từ những thế kỷ đầu của Kỷ nguyên Chung và kéo dài cho đến đầu thế kỷ 13, Nālandā và các viện khác bao gồm nhiều học giả và hành giả uyên bác nhấn mạnh các kinh điển khác nhau và tán thành nhiều nguyên lý triết học Phật giáo. Phật giáo đến Tây Tạng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ bảy thông qua hai người vợ của quốc vương Tây Tạng Songtsen Gampo,một là công chúa Nepal và một là công chúa Trung Quốc, người đã mang các bức tượng Phật giáo đến Tây Tạng, ngay sau đó là các văn bản Phật giáo bằng tiếng Phạn và tiếng Trung. Từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, người Tây Tạng ưa thích các văn bản đến trực tiếp từ Ấn Độ, và những văn bản này đã tạo thành phần lớn văn học Phật giáo được dịch sang tiếng Tây Tạng. Phật giáo phát triển mạnh ở Tây Tạng dưới thời trị vì của Vua Trisong Detsen, người đã mời nhà sư, triết gia Madhaymaka, và nhà logic học Śāntarakṣita từ Nālandā và yogi Mật tông Ấn Độ Padmasambhava đến Tây Tạng. Śāntarakṣita xuất gia cho các nhà sư Tây Tạng, thành lập saṅgha ở Tây Tạng, trong khi Đức Liên Hoa Sinh ban các cuộc điểm đạo và giáo lý Mật thừa. Śāntarakṣita cũng khuyến khích nhà vua Tây Tạng dịch các văn bản Phật giáo sang tiếng Tây Tạng. Vào đầu thế kỷ thứ chín, nhiều bản dịch đã được thực hiện, và một ủy ban gồm các học giả Tây Tạng và Ấn Độ đã chuẩn hóa nhiều thuật ngữ kỹ thuật và biên soạn một bản chú giải tiếng Phạn-Tây Tạng. Tuy nhiên, Phật giáo bị đàn áp dưới thời trị vì của Vua Langdarma, và các cơ sở tu viện bị đóng cửa. Vì các văn bản không còn nữa, việc thực hành của mọi người trở nên rời rạc và họ không còn biết cách thực hành tất cả các giáo lý khác nhau như một thể thống nhất. Vào thời điểm quan trọng này, Atiśa một học giả-hành giả theo truyền thống Nālandā, đã được mời đến Tây Tạng. Để sửa chữa những quan niệm sai lầm, ông đã viết Bodhipathapradīpa, giải thích rằng cả giáo lý kinh điển và tantra đều có thể được thực hành bởi một cá nhân một cách có hệ thống, không theo chiếu lệ. Kết quả là, mọi người hiểu ra rằng kỷ luật tu viện của Luật tạng, lý tưởng bồ tát của Kinh tạng, và các thực hành chuyển hóa của Kim cương thừa có thể được thực hành theo cách bổ sung lẫn nhau. Các tu viện lại được xây dựng, và Phật pháp phát triển mạnh mẽ ở Tây Tạng. Phật giáo ở Tây Tạng trước thời Atiśa được gọi là trường phái Nyingma hay “bản dịch cũ”. Những dòng giáo lý mới vào Tây Tạng bắt đầu từ thế kỷ thứ mười một đã trở thành những trường phái “dịch mới” (sarma), và những dòng giáo lý này từ từ được kết tinh để hình thành nên các truyền thống Kadam, Kagyu và Sakya. Dòng dõi Kadam cuối cùng được gọi là truyền thống Gelug. Tất cả bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng tồn tại ngày nay — Nyingma, Kagyu, Sakya, và Gelug — đều nhấn mạnh đến Cỗ xe Bồ tát, tuân theo cả kinh điển và mật điển, và có quan điểm triết học Madhyamaka. Theo gương của Śāntarakṣita, nhiều người xuất gia Tây Tạng tham gia vào việc nghiên cứu và tranh luận nghiêm túc ngoài thiền định. Một số người nói bậy trong quá khứ — các thuật ngữ “Lạt ma giáo”, “phật sống” và “vua chúa” – thật không may vẫn tồn tại. Những người phương Tây tiếp xúc với Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ 19 đã gọi nó là Lạt ma giáo, một thuật ngữ ban đầu do người Trung Quốc đặt ra, có lẽ vì họ thấy quá nhiều nhà sư ở Tây Tạng và nhầm tưởng tất cả họ đều là Lạt ma (thầy). Hoặc có lẽ họ đã nhìn thấy sự tôn trọng mà các đệ tử dành cho thầy của họ và lầm tưởng rằng họ tôn thờ thầy của mình. Trong cả hai trường hợp, Phật giáo Tây Tạng không nên được gọi là Lạt ma giáo. Các Lạt ma và tulkus (hóa thân được xác định của các bậc thầy tâm linh) được tôn trọng trong xã hội Tây Tạng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những danh hiệu này chỉ đơn giản là địa vị xã hội, và việc gọi một số người nhất định là tulku, rinpoche, hoặc lama đã dẫn đến tham nhũng. Tôi buồn khi mọi người đặt quá nhiều giá trị vào các danh hiệu. Phật giáo không phải là về địa vị xã hội. Điều quan trọng hơn là kiểm tra trình độ và phẩm chất của một người trước khi coi người đó làm người cố vấn tinh thần cho một người. Nhà giáo phải siêng năng rèn luyện và đáng được tôn trọng, dù có danh hiệu hay không. Một số người lầm tưởng rằng vì tulkus được công nhận là hóa thân của các đạo sư Phật giáo vĩ đại trước đó, họ phải là Phật và do đó gọi họ là “phật sống” (C. huofo). Tuy nhiên, không phải tất cả các tulkus đều là bồ tát, chứ đừng nói đến phật. “God king” có thể bắt nguồn từ báo chí phương Tây và được gán cho vị trí của Đạt Lai Lạt Ma. Vì người Tây Tạng coi Đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Avalokiteśvara, vị bồ tát của lòng từ bi, những nhà báo này cho rằng ông là một “vị thần”, và vì ông là nhà lãnh đạo chính trị của Tây Tạng nên ông được coi là một vị vua. Tuy nhiên, Dalai Lama nhiều lần nhắc nhở mọi người rằng ông là một tu sĩ Phật giáo giản dị, không hơn không kém. Đạt Lai Lạt Ma không phải là một vị thần, và vì Cơ quan Hành chính Trung ương Tây Tạng đặt tại Dharamsala, Ấn Độ, hiện do một thủ tướng đứng đầu, nên ông không phải là một vị vua. Một số người lầm tưởng vị trí của Dalai Lama giống như giáo hoàng Phật giáo. Bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng chính và nhiều chi nhánh phụ của họ hoạt động ít nhiều độc lập. Các sư trụ trì, rinpoches và các giáo viên đáng kính khác thỉnh thoảng gặp nhau để thảo luận về các vấn đề hai bên cùng quan tâm dưới sự bảo trợ của Cục Văn hóa và Tôn giáo Trung ương Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma không kiểm soát các quyết định của họ. Tương tự, Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là người đứng đầu của bất kỳ truyền thống nào trong bốn truyền thống. Gelug do Ganden Tripa đứng đầu, một vị trí luân phiên, và các truyền thống khác có các phương pháp tuyển chọn lãnh đạo riêng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *