Thứ năm, ngày 28/05/2026 16:00 GMT+7
Từ góc nhìn của TS. Phạm Mạnh Hùng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, thương mại hóa tài sản trí tuệ trong đại học không chỉ là vấn đề chuyển giao công nghệ, mà còn là bài toán thiết kế hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý.
Các trường đại học trước đây thường được nhìn nhận chủ yếu qua hai chức năng: đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên, trong nền kinh tế tri thức, một chức năng thứ ba ngày càng trở nên quan trọng: đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Một sáng chế, một giải pháp công nghệ hay một mô hình kinh doanh mới nếu chỉ dừng lại ở bài báo, đề tài nghiệm thu hoặc bằng sáng chế được cất trong hồ sơ thì chưa thể tạo ra tác động thực sự.
Trường học đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường ra sao?
Trong nhiều năm, các trường đại học thường được nhìn nhận chủ yếu qua hai chức năng: đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên, theo TS. Phạm Mạnh Hùng, ở Việt Nam, một số trường đại học đã bắt đầu chú ý hơn đến chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Một vài mô hình hợp tác với doanh nghiệp, công ty trực thuộc trường, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc vườn ươm khởi nghiệp đã xuất hiện. Dù hoạt động này nhìn chung vẫn còn phân tán và chưa tương xứng với tiềm năng của hệ thống đại học, nhưng chuyển động gần đây cho thấy một hướng đi tích cực đang dần hình thành.

TS. Phạm Mạnh Hùng lấy dẫn chứng, theo các chiến lược đến năm 2025, một số trường đã đạt được kết quả khả quan trong hoạt động chuyển giao công nghệ, chẳng hạn như Đại học Bách khoa TP.HCM với doanh thu từ chuyển giao công nghệ khoảng 1.300 tỷ đồng trong giai đoạn 2011-2020 hay Đại học Bách khoa Hà Nội với doanh thu khoảng 25 tỷ đồng/năm. Các trường này cũng đã xây dựng mô hình hợp tác với doanh nghiệp thông qua các công ty mẹ-con như BKHolding, để hỗ trợ các nhà khoa học chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế. Tuy nhiên, các kết quả này vẫn chưa đạt mức độ kỳ vọng so với tiềm năng.
Một số trường đại học khác, như Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội, đã có các mô hình kinh doanh gắn kết với nghiên cứu, như việc thành lập xí nghiệp may mặc để nhận các đơn hàng xuất khẩu, qua đó chuyển giao kết quả nghiên cứu và mang lại nguồn thu lớn cho nhà trường. Mặc dù vậy, các mô hình này vẫn chưa phổ biến và quy mô chưa đủ lớn để tạo ra tác động toàn diện.
Mặc dù một số trường đại học lớn có nguồn thu đáng kể từ học phí và các nguồn thu khác, nhưng doanh thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vẫn rất khiêm tốn. Chẳng hạn, tại Trường Đại học Hoa Sen, thu từ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chỉ đạt 97 triệu đồng, trong khi thu từ học phí chiếm phần lớn tổng doanh thu. Tương tự, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng có thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chỉ đạt 170 triệu đồng, chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng doanh thu. Tại Trường Đại học Duy Tân, nguồn thu từ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chỉ chiếm 0,24% tổng doanh thu. Các con số này cho thấy hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các trường đại học vẫn còn hạn chế và chưa tạo được nguồn thu bền vững.
Một vài mô hình hợp tác với doanh nghiệp, công ty trực thuộc trường, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc vườn ươm khởi nghiệp đã xuất hiện. Dù hoạt động này nhìn chung vẫn còn phân tán và chưa tương xứng với tiềm năng của hệ thống đại học, nhưng chuyển động gần đây cho thấy một hướng đi tích cực đang dần hình thành.
Gợi mở cho trường học Việt Nam
Theo TS Hùng, để tài sản trí tuệ đại học thực sự đi vào thị trường vẫn cần tháo gỡ một số nút thắt căn bản. Khó khăn không chỉ nằm ở số lượng sáng chế còn hạn chế, mà còn ở khả năng biến sáng chế thành sản phẩm có thị trường. Nhiều kết quả nghiên cứu dừng lại ở nghiệm thu đề tài; nhiều bằng sáng chế chưa có doanh nghiệp tiếp nhận; nhiều ý tưởng khởi nghiệp thiếu cố vấn, vốn mồi và không gian thử nghiệm. Trong khi đó, doanh nghiệp thường cần các giải pháp có thể ứng dụng nhanh, giảm rủi ro và chứng minh được hiệu quả kinh tế.
Một khó khăn khác là cơ chế trong trường đại học chưa thật sự khuyến khích nhà khoa học thương mại hóa nghiên cứu. Nếu quyền sở hữu, chia sẻ lợi ích, trách nhiệm pháp lý và quy trình chuyển giao chưa rõ, giảng viên và nhà nghiên cứu sẽ ngại bước vào thị trường. Nếu hoạt động đánh giá vẫn đặt nặng công bố và nghiệm thu hơn tác động ứng dụng, thương mại hóa tài sản trí tuệ khó trở thành ưu tiên thực chất.

Để làm được điều đó, theo TS. Phạm Mạnh Hùng, thứ nhất, cần xác lập rõ quyền sở hữu và cơ chế chia sẻ lợi ích đối với tài sản trí tuệ hình thành trong trường đại học. Nhà khoa học phải thấy rằng họ được ghi nhận công bằng, được hưởng lợi chính đáng và được hỗ trợ về thủ tục khi đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Thứ hai, các trường cần xây dựng đơn vị chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, không chỉ là bộ phận hành chính. Những đơn vị này phải có năng lực đánh giá công nghệ, định giá tài sản trí tuệ, tìm doanh nghiệp phù hợp, hỗ trợ pháp lý, kết nối nhà đầu tư và đồng hành với nhóm nghiên cứu sau khi chuyển giao.
Thứ ba, cần có quỹ chứng minh ý tưởng và vốn mồi cho các dự án có tiềm năng. Khoảng cách từ nghiên cứu đến sản phẩm thường rất dài. Nếu không có nguồn lực để thử nghiệm, hoàn thiện mẫu, kiểm định thị trường và bảo vệ sở hữu trí tuệ, nhiều kết quả nghiên cứu sẽ khó vượt qua “thung lũng chết” giữa phòng thí nghiệm và thị trường.
Thứ tư, Việt Nam nên chọn một số đại học có năng lực nghiên cứu tốt để đầu tư trọng điểm, thay vì dàn trải. Mỗi trung tâm mạnh cần gắn với một số lĩnh vực ưu tiên, có doanh nghiệp đồng hành, có vườn ươm, không gian thử nghiệm và cơ chế hợp tác quốc tế. Khi có vài mô hình thành công, kinh nghiệm có thể được lan tỏa sang các trường khác.
Thứ năm, cần thay đổi cách đánh giá đại học. Bên cạnh công bố khoa học, cần coi số bằng sáng chế có khai thác, hợp đồng chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp spin-off, doanh thu từ nghiên cứu và tác động xã hội là những chỉ báo quan trọng. Khi tiêu chí đánh giá thay đổi, hành vi của nhà trường và nhà khoa học cũng sẽ thay đổi.
Điều cần thiết là tạo ra một con đường rõ ràng để những kết quả nghiên cứu có tiềm năng được nhận diện, bảo vệ, thử nghiệm và kết nối với thị trường. Khi đó, tài sản trí tuệ trong đại học sẽ không còn “ngủ quên” trong ngăn kéo, mà có thể trở thành nguồn lực mới cho đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Thế giới đã đi trước như thế nào?
Tại Hoa Kỳ, bước ngoặt lớn đến từ Luật Bayh-Dole năm 1980. Đạo luật này cho phép các trường đại học và tổ chức nghiên cứu được nắm giữ, quản lý và cấp phép các sáng chế hình thành từ nguồn tài trợ liên bang. Khi quyền sở hữu và quyền khai thác được xác lập rõ ràng, các trường có động lực mạnh hơn để bảo vệ sáng chế, tìm đối tác doanh nghiệp và chia sẻ lợi ích với nhà khoa học.
Đại học Stanford là một ví dụ tiêu biểu. Văn phòng cấp phép công nghệ của Stanford không chờ doanh nghiệp tự tìm đến mà chủ động tiếp thị công nghệ, tìm đối tác và hỗ trợ nhà khoa học đưa phát minh ra thị trường. Điều quan trọng hơn là Stanford có một văn phòng chuyển giao công nghệ và có cả một môi trường khởi nghiệp xung quanh: nhà đầu tư, doanh nhân, cựu sinh viên, vườn ươm, công viên khoa học và văn hóa chấp nhận thử nghiệm. Những cái tên như Google, Yahoo hay Hewlett-Packard cho thấy đại học có thể trở thành điểm khởi đầu của các doanh nghiệp có ảnh hưởng toàn cầu.
Trung Quốc lại đi theo cách tiếp cận mạnh về định hướng nhà nước. Từ các chương trình khoa học – công nghệ trọng điểm, khu công nghệ cao đến các trung tâm chuyển giao công nghệ, Trung Quốc xây dựng các “cầu nối” có tổ chức giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Gần đây, nước này thúc đẩy các nền tảng một cửa để kết nối nghiên cứu với nhu cầu thị trường, hỗ trợ từ chứng minh ý tưởng, thử nghiệm, định giá công nghệ đến tìm vốn. Cách làm này cho thấy thương mại hóa tài sản trí tuệ không thể chỉ dựa vào từng nhà khoa học riêng lẻ, mà cần hạ tầng trung gian chuyên nghiệp.
Singapore lại nổi bật ở khả năng tổ chức hệ sinh thái tinh gọn nhưng kết nối quốc tế cao. NUS Enterprise của Đại học Quốc gia Singapore không chỉ hỗ trợ bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ, mà còn thúc đẩy khởi nghiệp thông qua ươm tạo, cố vấn, kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư và các thị trường quốc tế. Các không gian như BLOCK71 cho thấy đại học có thể trở thành trung tâm kết nối giữa sinh viên, nhà khoa học, startup và doanh nghiệp toàn cầu.