Thành phố bị lãng quên – P2

[ Phần 2 cũng như là phần cuối ]

Tôi đóng cửa sổ và trốn sau giường cùng với Isabella. Con bé chỉ muốn khóc toáng lên vì nhớ mẹ nhưng tôi buộc phải đưa tay che miệng đồng thời cũng che đi luôn những giọt nước mắt của con bé. 

Đêm hôm sau thì có vẻ như yên tĩnh hơn vì không ai dám mạo hiểm để ra ngoài nữa. Trong những ngày qua, tôi sớm nhận ra rằng mối đe doạ không đến từ khu rừng kì lạ bao quanh mà là đến từ chính những người ở trong thành phố. Tôi không thể đếm được có bao nhiêu tội ác đã gây ra nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến những vụ trộm cắp, cướp của và thậm chí là cả giết người. Tỉ lệ tội phạm hẳn đã tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, tình trạng đó cũng không hoàn toàn là hỗn loạn. Cảnh sát và những người quân nhân có mặt trong cuộc diễu hành trước đó đã giữ một số trật tự quan trọng cho thành phố. Vì những người dân bình thường không hề có vũ khí nên chúng tôi cũng không còn là mối đe dọa nữa.

Một nhà lãnh đạo đã đứng lên – chính là người đàn ông trên chiếc xe máy – và sau vài tuần, mọi người dường như đã hợp tác chung sống với nhau một cách hoà bình. Số lượng thực phẩm còn xót lại trong hầu hết các cửa hàng đều được phân chia một cách công bằng. Những ai còn có thể làm việc đều làm việc mà không chút do dự, kể cả tôi.

Một số nhà khoa học đang làm việc tại trường đại học gần đó trong thời gian xảy ra sự kiện cũng không thể hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nhưng với sự giúp đỡ của hàng trăm công dân, họ đã có thể xây dựng được một nhà máy điện hạt nhân nhỏ có thể cung cấp điện trở lại cho thành phố. Tôi chủ yếu giúp đỡ trong dự án đó. Tôi không biết gì nhiều về vật lí hạt nhân nhưng tôi đã cố gắng hỗ trợ họ bằng hết sức mình. Thật đáng kinh ngạc với những gì chúng tôi có thể làm được với tư cách là một tập thể và bên cạnh nỗi kinh hoàng với thành phố mới, trong lòng tôi còn dâng lên một chút tự hào không thể nói thành lời. Mặc dù vậy thì đa phần khoảng thời gian ở đây không hề đơn giản chút nào. Thật sự vô cùng khó khăn. 

Ngoài vấn đề cá nhân của tôi là luôn giữ cho Isabella khoẻ mạnh và an toàn (điều mà tôi đã thành công mặc dù con bé không bao giờ cảm thấy thế) thì có 3 vấn đề lớn đang ngày một nghiêm trọng hơn. 

Đầu tiên chính là tình hình thức ăn và nước uống. Một số người đã cố gắng trồng lúa mì và khoai tây trong công viên và các sân bóng đá nhưng vẫn không đủ. Chúng tôi đã hết thức ăn và nước uống. Thỉnh thoảng trời sẽ mưa nhưng rất ít người dám uống nước từ đó. Để giải quyết vấn đề cùng tìm ra giải pháp cho một số vấn đề khác, họ đã cử một số đoàn thám hiểm đi thăm dò khu rừng xung quanh. Những tất cả đều đi đến cùng một kết cục, không một người nào quay về cả. Chỉ có 1 hay 2 người gì đó đã quay về được nhưng họ đã không còn là chính mình nữa. Như thể có một thế lực kì bí nào đó trong khu rừng đã đoạt lấy linh hồn của họ.

Vấn đề thứ hai chính là tự nhiên. Những thứ đó dường như đã để yên cho chúng tôi trong vài tháng đầu tiên nhưng ngay sau khi chúng tôi có điện trở lại, nó lại ập đến. Phải mất một lúc sau tôi mới được tận mắt chứng kiến điều đó, những sinh vật bí ẩn đã bước vào thành phố. Thỉnh thoảng, chúng chỉ đi ngang qua thành phố chúng tôi và không bao giờ quay trở lại. Một nữ cảnh sát (một trong những tân binh) đã kể với tôi rằng cô ấy từng theo dõi một đứa trẻ khoả thân màu xanh da trời khi nó bước vào phố và sau đó thì lại rời khỏi đó. 

Mặt khác thì cũng có những con quái vật mà tôi không biết phải diễn tả thế nào đã tàn phá thành phố và giết chết vô số người dân trước khi chúng rời đi. 

Có một khoảng thời gian, tôi đã tận mắt chứng kiến một con rết khổng lồ trắng tinh với hàng trăm con mắt màu đỏ đột nhiên chui lên từ một miệng cống. Nó nhanh chóng trèo lên một toà nhà như thể nó biết chính xác nó sẽ làm gì và chui vào cửa sổ của một trong những tầng cao nhất. Kéo theo đó là hàng loạt tiếng la hét thất thanh phát ra từ trong toà nhà. Một vài người đã may mắn trốn thoát được nhưng đa phần đều đã bị con rết đó xé toạc. Chỉ khoảng 5 phút sau, con rết đã chui ra lại theo lối nó đã vào, từng khúc trên cơ thể nó đều bê bết máu và quay trở lại miệng cồn. 

Những cuộc tấn công này đã khơi dậy nỗi sợ hãi và kinh hoàng trong lòng mỗi người dân ở đây. Mặc dù nó không xảy ra thường xuyên nhưng nó cũng xảy ra ở tần suất đủ nhiều khiến mọi người thật sự phải dè chừng. 

Còn vấn đề thứ 3 thì về sau cũng không có ý đáng nguy cấp cho lắm. Đó là về vấn đề sức khoẻ. Không có biểu đồ hay thứ gì cụ thể để xác định về việc có ai bị ảnh hưởng hay không nhưng đã có tầm dưới 1% dân số bị nhiễm bệnh. Ban đầu thì nó giống như một cơn sốt thông thường nhưng sẽ dần trở thành các loại đột biến. Hầu hết các loại đột biến này sẽ khiến người bệnh trở nên tàn tật hoặc biến dạng nhưng đôi khi, dù hiếm hoi những vẫn có một vài trường hợp người bệnh đã phát triển một số đặc tính có lợi cho họ trong việc sinh tồn. Trường hợp kì lạ nhất mà tôi từng biết là một cô gái trẻ đã mọc thêm một con mắt thứ ba ở giữa trán. Tròng đen của con mắt này lấp lánh với nhiều màu sắc hơn và cô gái tuyên bố rằng cô có thể dùng con mắt này để nhìn nhận cảm xúc của người khác được.

Trong giai đoạn đầu khi những chứng bệnh mới ập đến, người bệnh bị đối xử tệ bạc không khác gì những con quái vật trong khu rừng. Chuyện đã trở nên tồi tệ hơn khi người ta phát hiện ra rằng những sinh vật từ khu rừng đó không tấn công người bệnh. Có một thời gian, một đám đông đã tụ tập tại quảng trường Freyja đòi đánh đuổi những người bệnh ra khỏi thành phố. May mắn thay, quân đội đac ngăn cản được chuyện này.

Tuy nhiên, những người bệnh cuối cùng cũng bị đưa vào rừng. Không phải để đuổi họ đi mà là để tận dụng khả năng miễn dịch tuyệt vời của họ với thiên nhiên ở thế giới này. Điều này đã trở thành một bước tiến thành công lớn và vấn đề về thực phẩm và nước cuối cùng cũng được giải quyết. Họ có thể phiêu lưu ra ngoài, khám phá khu rừng xung quanh và trở về với các loại rau, trái cây, động vật có vú mà họ săn được. 

Đây là một bước ngoặt lớn với tất cả chúng tôi và rồi, may mắn lại ập đến. Mọi nỗ lực đánh bắt trước đó của chúng tôi đềy đã thất bại cho đến một ngày, đột nhiên cá xuất hiện ở khắp nơi trên sông. Chúng tôi đều sớm biết rằng cá sẽ xuất hiện ở ngoài biển hoặc gần đất liền vào những khoảng thời gian khác nhau. Tuy nhiên, ngay khi đàn cá tiếp cận đến gần đất liền, một cơn giông màu tím đầy bí ẩn đã kéo dài hàng tuần và dày vò cả thành phố. May mắn thay, chúng tôi đã sống sót. Tất nhiên là một vài người đã không thể trốn thoát khỏi số phận nhưng cuộc sống vẫn sẽ tiếp diễn. Cuối cùng, chúng tôi đã thắng thế.

Trong suốt 5 năm tiếp theo không có quá nhiều thảm hoạ xảy ra và đa phần sự chú ý của chúng tôi cũng dành hết vào việc tìm cách trở về quê nhà. Ngay cả Isabella cũng ít nghĩ về bố mẹ khi con bé dần lớn lên. Theo thời gian, hầu hết mọi người cũng đã làm quen được với hoàn cảnh sống kì lạ mà chúng tôi đã cùng gặp phải vào tháng 7 năm 2013 định mệnh đó. Nhiều người đã tự sát nhưng hầu hết thì chúng tôi đều chọn cách tiếp tục cuộc sống tại mảnh đất vô danh này. 

Tuy nhiên, có hai sự kiện đã thay đổi mọi thứ. Sự kiện đầu tiên chính là những gì đã xảy ra với chuyến thám hiểm trên biển đã được lên kế hoạch kĩ càng. Hàng trăm người mà chủ yếu trong đó là nam giới đã quyết định phiêu lưu ra biển bằng một chiếc tàu tuần dương hạng nặng được neo đậu bên cạnh thành phố. Đây sẽ là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời và có lẽ là một cách để tìm ra câu trả lời cho mọi chuyện. Nó đã truyền cảm hứng cho tất cả người dân ở đây. Hàng ngàn người bao gồm cả tôi và Isabella đã đứng tụ tập để xem cảnh con thuyền khổng lồ từ từ ra khơi. Đó là cảm giác háo hức hệt như lúc chúng tôi đợi chờ công viên giải trí mở cửa vào 5 năm trước. Tất cả chúng tôi đều nhìn chằm chằm vào đường chân trời mãi cho đến khi con thuyền mang tên Birdo de Espero biến thành một chấm nhỏ. Chúng tôi đã tưởng tượng ra hàng vạn cuộc phiêu lưu mà họ có thể sẽ trải qua và mong ngóng về ngày họ trở lại. Nhưng rồi một thứ gì đó, một thứ gì đó lớn hơn hẳn bất kì thứ gì chúng tôi từng nhìn thấy trước đây đã ngoi lên khỏi mặt nước và nuốt chửng toàn bộ Birdo de Espero. 

Một số người đã la hét và số còn lại thì phát khóc. Đây là một đòn giáng mạnh vào cả thành phố. Chỉ riêng việc biết đến sự tồn tại của một sinh vật có thể nuốt gọn cả con thuyền Birdo de Espero trong một ngụm như thế đã khiến nhiều người mất đi hi vọng về tương lai của họ. 

Sự kiện tiếp theo thì ngược lại. Đó là một phép màu hoặc chí ít thì chúng tôi đã nghĩ như thế. Nó xảy ra một tháng sau sự kiện con thuyền Birdo de Espero. Một lính canh quân đội chỉ khoảng tầm 15 tuổi đã phát hiện ra rằng khi cậu ấy đứng ở một địa điểm nhất định ở quảng trường Freyja, cậu ấy có thể dò được một đài phát thanh ở thế giới cũ của chúng tôi. Tên của đài là Synthwave Mix và nó dành phần lớn thời gian chỉ để phát sóng những bài nhạc. Hi vọng đã trở lại ngay lập tức nhưng lần này khác hẳn với những lần trước đó vì chúng tôi đã phải trải qua quá nhiều thứ trong suốt 5 năm vừa rồi. Đây là hi vọng được gặp lại những người thân yêu, là hi vọng được trở về nhà. Những nhà khoa học ở trường đại học đã điều tra khu vực đó để thử và xác định xem tín hiệu vô tuyến phát ra từ đâu. Họ không gặt hái được quá nhiều thành công nhưng ít ra chúng tôi cũng đã biết được rằng chúng sinh ra từ mặt đất bên dưới quảng trường Freyja. 

Trong lúc các nhà khoa học điều tra khu vực này, những người dân đã tụ tập xung quanh đó. Tất cả bọn họ đều mang theo đủ loại radio, trẻ em thì mang theo thú nhồi bông để cảm thấy an toàn và hi vọng có thể theo dõi được đài Synthwave Mix để nhớ về ngôi nhà đã mất của họ. Tất nhiên, khu vực có thể nghe thấy đài phát thanh quá nhỏ và cảnh sát đã phải đuổi bớt người dân quanh đó đi để dành cho các nhà khoa học một khu vực nhất định. Tuy nhiên sau vài ngày, các nhà khoa học đã đặt một bộ loa lớn dưới chân tượng Freyja và kết nối chúng với các thiết bị thu âm họ đang sử dụng để mọi người đều có thể nghe được đài phát thanh.

Suốt cả ngày lẫn đêm, các bản nhạc tổng hợp thư thái có phần hơi u ám vang lên khắp cả thành phố. Mọi người đều tụ tập quanh bức tượng và thậm chí họ còn bất chấp cả nguy hiểm trong đêm. Điều này đã trở thành một truyền thống mới trong thành phố của chúng tôi. Người dân ở đây kết thúc một ngày bằng cách đi đến bức tượng và ngồi xuống xung quanh như thể đang cầu nguyện.  Nó đã trở thành một chuyến hành hương của chúng tôi. Không phải thứ âm nhạc mà chính nguồn gốc của nó mới là thứ đã thu hút mọi người đến quảng trường. Những giai điệu đó đã sớm trở thành biểu tượng cho tất cả những hi vọng và mong muốn của chúng tôi. Thỉnh thoảng, mọi người sẽ nhảy đứng dậy và nhảy múa với những giọt nước mắt chứa đựng niềm vui buồn lẫn lộn khó giải thích. Mặc dù vậy, điều khiến tất cả chúng tôi im lặng và giữ tập trun tuyệt đối là khi người dẫn chương trình nói gì đó. Thông thường, họ chỉ nói về thứ âm nhạc mà họ đang phát mà hoàn toàn không biết rằng có đến cả một thành phố đầy những con người đang lắng nghe họ như những kẻ sùng đạo nhưng trong vài dịp hiếm hoi, họ lại nói đôi chút về thế giới bên ngoài. Vào những lúc như thế, cảm giác như trái tim của chúng tôi nghẹn lại trong sự mong đợi. Liệu họ có nói gì đó về chúng tôi không? Về nỗ lực của họ trong việc tìm ra nơi ở của chúng tôi và cách họ sẽ đưa chúng tôi trở lại chăng? Nhưng không bao giờ có một tin tức gì nhắc đến chúng tôi cả, như thể họ đã quên mất hoặc chưa bao giờ biết về chúng tôi vậy. Số phận bi thảm của thành phố Korona chưa từng được nhắc đến. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ đầu hàng trước số phận.

Phải mất một thời gian dài thì các nhà khoa học mới quyết định đào một cái hố lớn ngay vị trí bắt được sóng vô tuyến vô cùng quý giá. Đây là một nhiệm không không hề dễ dàng và an toàn. Công việc này đã kéo dài hàng tuần liền. Một lần nữa, tất cả chúng tôi đã cùng đồng tâm hiệp lực lại với nhau. Không ai biết rằng bản thân mình đang tìm kiếm thứ gì cả, chúng tôi chỉ biết rằng đó là một thứ gì đó. 

Khi chúng tôi đào đến đáy – nơi đã chạm vào một lớp đá không thể đào qua được nữa, một núi đất đã bao phủ toàn bộ quảng trường xung quanh. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng những nỗ lực của chúng tôi không hoàn toàn là vô ích. Ngay bên dưới nơi thu sóng vô tuyến xuất hiện một cái lỗ nhỏ xíu trên nền đá. Mọi người được yêu cầu lùi ra xa trong lúc các nhà khoa học điều tra nó. Đầu tiên, họ đã cố gắng đo độ sâu. Quá trình này đã ngốn kha khá thời gian vì việc tìm được một sợi dây đủ dài như vậy là rất khó. Cuối cùng, nó được ước tính là sâu khoảng 700 mét. Tiếp theo, họ đã buộc một số thiết bị vào đầu sợi dây và thả nó xuống. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, cái hố nhỏ đã nuốt trọn mọi món đồ được gửi xuống. Tất nhiên là không ai biết nó đã đi đâu nhưng bằng một cách kì lạ nào đó, tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng nó đã về nhà. Đó là một giả định hợp lí vì thứ duy nhất thoát ra khỏi chiếc lỗ là sóng vô tuyến đến từ Trái Đất. Tất cả chúng tôi đều vui mừng khi khám phá điều này. Nhiều thí nghiệm hơn đã được thực hiện và một số câu hỏi vẫn chưa có lời giải đáp nhưng các nhà khoa học đều đồng thuận rằng cái hố thật sự là một cánh cổng để quay trở về thế giới của chúng ta. 

Tuy nhiên, có hai vấn đề lớn cần phải giải quyết. Đầu tiên là sự an toàn. Mỗi khi chúng tôi buộc thứ gì đó vào và thả xuống, sợi dây đều bị đứt giữa chừng giống như cách toà nhà chọc trời vào 5 năm trước biến mất vậy. Điều này có nghĩa là bất kì ai chui xuống dưới đó đều có thể bị cắt cổ như chơi. Tuy nhiên, vấn đề này đã được giải quyết khá sớm. Bằng cách buộc máy quay phim vào trong sợi dây và kết nối với một màn hình ở trên mặt đất, người ta đã phát hiện ra rằng sợi dây chỉ đứt khi bị kéo lại. Miễn là nó không bị kéo lại, màn hình vẫn sẽ nhận được hình ảnh từ máy quay phim. Máy quay đã không ghi nhận thêm bất kì thứ gì khác ngoài bóng tối được cho là ở thế giới bên kia nhưng vì nó vẫn tiếp tục hoạt động cho đến khi bị kéo lại nên điều này dường như cũng không phải là một vấn đề quá nghiêm trọng. Rốt cuộc thì họ cũng đã đề ra một số vấn đề kĩ thuật cho những trường hợp này.

Vấn đề thứ hai chính là cái lỗ quá nhỏ đến mức không ai chui vào được. Rất nhiều nỗ lực đã đổ ra trong việc mở rộng lỗ nhưng dường như nền móng được làm từ một loại chất liệu gì đó cứng hơn hẳn bất kì loại máy móc nào của chúng tôi. Điều này vô cùng bực bội. Nó làm cho chúng tôi có cảm gúac rằng chúng tôi có thể nhìn thấy được đích đến nhưng lại chẳng thể nào vượt qua. Cuối cùng, một trong những nhà khoa học đã nói rằng cô ấy muốn đưa cậu con trai 10 tuổi của mình xuống hố. Cậu bé đủ nhỏ con để có thể chui vừa. Điều này đã gây ra tranh cãi trong một thời gian khá dài trước khi nó được thông qua. Người mẹ đã lập luận rằng thành phố Korona không phải là nơi dành cho con trai của cô ấy và mọi bằng chứng đều cho thấy rằng cái hố đó chính là cánh cổng để trở về nhà. 

Cậu bé thật sự rất dũng cảm. Cậu ấy biết rằng có thể mình sẽ chẳng thể gặp lại người mẹ tội nghiệp của mình được nữa nhưng cậu ấy vẫn vượt qua nó. Cậu bé được tặng một bộ đàm và sau lời tạm biệt đẫm nước mắt với người mẹ, cậu bé đã bị đưa xuống cái hố sâu 700 mét tối đen như mực. Cậu ấy đã được hướng dẫn về bộ đàm và xác nhận nếu đến được bên kia một cách an toàn. Sau khi sợi dây được kéo căng, người mẹ vẫn ngồi đó đợi con mình báo tin. Tuy nhiên, cậu bé đã không bao giờ trả lời lại. Trong suốt nhiều tuần trôi qua, người mẹ vẫn ngồi bên cạnh mép hố, dưới cái nóng tàn nhẫn cùng những cơn mưa tầm tã và gọi đi gọi lên tên của đứa con trai qua bộ đàm của mình. Không ai chuyện gì hay liệu có sai sót gì đã xảy ra hay không. Vì không có tuyến vô sóng nào ngoài Synthwave Mix đến được đây nên chúng tôi cũng chẳng bắt được sóng của những đài khác. Tuy nhiên, các nhà chức trách vẫn cho rằng cái hố này quá nguy hiểm để bất kì ai có thể chui vào đó lần nữa.

Tuy vậy, điều này cũng không thể làm thay đổi suy nghĩ của mọi người. Cái hố đó chính là đại diện cho niềm hi vọng duy nhất mà chúng tôi đã chờ đợi trong suốt nhiều năm qua. Với tất cả những nguy hiểm đang rình rập ở nơi này mỗi ngày có thể nhẹ nhàng tiêu diệt chúng tôi như thổi nhẹ một ngọn nến thì rủi ro của việc chui qua cái hố đó dường như là ít hơn mức chấp nhận đươnc. Cái hố đã được cảnh sát canh giữ nghiêm ngặt nhưng hầu hết bọn họ cũng có chung quan niệm với tập thể thành phố rằng cái hố chính là lối thoát duy nhất…Không phải dành cho những người lớn mà là dành cho những đứa trẻ.

Và bây giờ tôi đang ngồi ở đây, trong căn phòng mà tôi đã trả tiền 5 năm về trước và viết ra những dòng này. Trong vài tuần gần đây, nhiều bậc phụ huynh đã lén lút đưa con họ xuống hố vào ban đêm. Thế giới này thật sự không có chỗ cho chúng. Nếu như chúng có thể sống xót thì chúng xứng đáng được nhận một cuộc sống tốt hơn. Do đó nên cũng giống như những bậc phụ huynh khác, tôi quyết định đưa Isabella về nhà. Khi tôi nói với con bé về điều đó, con bé đã nhìn tôi với ánh mắt hạnh phúc nhất kể từ khi chúng tôi bước chân đến cái thế giới tệ hại này.

Tôi đã viết cái này cả ngày rồi. Đây là bằng chứng của tôi cho tất cả những gì đã xảy ra với Korona và tôi sẽ đưa cuốn sổ này cho Isabella. Tôi chắc chắn rằng con bé có hể đưa cuốn sổ này cho bố của con bé. Không hiểu sao nhưng trong thâm tâm tôi có linh cảm rằng con bé có thể tìm đường về nhà bố mẹ. Chẳng bao lâu nữa thì trời sẽ tối và tôi sẽ đưa Isabella đến quảng trường Freyja, lần cuối cùng.

Tôi xin lỗi vì đã quá dài dòng,

Helena.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *