SƠ LƯỢC VỀ CHÍNH QUYỀN – QUÂN ĐỘI VÀ TÊN CHỨC QUAN THỜI TÂY SƠN

(1) Về xây dựng chính quyền trung ương:

Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng là Minh Đức Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức, đổi thành Đồ Bàn thành Hoàng đế, phong Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương Tướng quan và đặt các chức Tổng đốc, Tư khấu, Hộ giá… Tư liệu về chính quyền thời Nguyễn Nhạc còn rất ít ỏi.

Tổ chức chính quyền của Nguyễn Huệ: Nguyễn Huệ lúc đầu xưmg là An Nam Đại Nguyên súy, đến năm 1787 xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính Bình vương.

Ngô Văn Sở là Đại Tư Mã, Nguyễn Văn Lân là Quan nội hầu. Mùa thu 1788, Nguyễn Huệ chiêu dụ được nhiều văn quan và sĩ phu Bắc hà. Duy trì cơ cấu tổ chức chính quyền thời Lê Trung hưng, trong hai năm 1787 và 1788, cho lập lại hệ thống Lục Bộ, phong Hồ Công Thuyên làm Thượng thư bộ Hình tước Thuyên Quang hầu; Lê Tài làm Thị lang bộ Binh tước Giác lý hầu… Hệ thống Giám sát được phục hồi, Phan Huy ích và Nguyễn Gia Phan được phong làm Thị trung Ngự sử.

Viện Hàn lâm hoạt động trở lại trong đó nhiều văn quan nhà Lê cũ được sung vào Hàn lâm viện Trực học sĩ như Ngô Vi Quỹ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch… (đến đời Quang Trung 5 (1792) Nguyễn Huệ lại lấy Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch sung Hàn lâm viện Trực học sĩ).

Nguyễn Huệ mô phỏng tổ chức triều đình của mình theo chế độ Tam Sảnh, mà chủ yếu là Trung thư sảnh thời Trần và Lê sơ để đặt Trung thư phủ với chức Trung thư lệnh đứng đầu.

Năm 1789, Nguyễn Huệ lập Trung thư phủ, thăng Trần Văn Kỷ từ chức Từ Lệnh lên giữ chức Trung thư lệnh, nói nôm na là giữ chức năng như Bí thư bên cạnh Hoàng đế.

Năm 1790, Nguyễn Huệ củng cố hệ thống Lục Bộ:
– Bộ Lại: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước;
– Bộ Lễ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo;
– Bộ Hộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng;
– Bộ Binh: Trông coi việc binh, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh và ứng phó các việc khẩn cấp;
– Bộ Hình: Trông coi việc thi hành pháp luật;
– Bộ Công: Trông coi việc xây dựng, quản đốc thợ thuyền.

Ngô Thì Nhậm được thăng làm Thượng thư bộ Binh, Vũ Duy Tấn làm Đãi chiếu Thượng thư bộ Công, Nguyễn Thế Lịch làm Thượng thư bộ Lại, Ninh Tốn làm Hữu Thị lang bộ Binh… Tháng 4 năm 1790 Tây Sơn lập đoàn sứ bộ sang Trung Quốc do Phan Huy ích cùng một số văn quan khác làm sứ thần. Trong năm này các tổ chức Viện, Ty được xây dựng và hoàn thiện như việc thành lập Viện Sùng chính mà La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp được phong làm trưởng Viện.
(2) Chính quyền địa phương:

Ngoài Bắc Thành tức kinh thành Thăng Long cũ của nhà Lê, Nguyễn Huệ chia vùng cai quản thành các xứ (trấn) duy trì như địa phận hành chính cũ, riêng trấn Sơn Nam được chia làm Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ.

Mỗi trấn có Trấn thủ đứng đầu hoặc có trường họp gọi là Lưu thủ quản, mỗi Trấn có một Hiệp Trấn hoặc Tham hiệp làm phó trấn. Như trấn Nghệ An năm 1787 được giao cho Lưu thủ Danh Phương hầu Nguyễn Văn Phương trấn nhiệm; Năm 1789 lại giao cho Thận Trực hầu Nguyễn Văn Thận làm Nghệ An trấn thủ quan. Nguyễn Văn Thận vừa là quan khâm sai của triều đình vừa là quan Trấn thủ đứng đầu trấn Nghệ An. Chức phó trấn Nghệ An được giao cho Nguyễn Triêm giữ chức Hiệp trấn Hữu Đồng nghị.

Mỗi xứ (trấn) chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng, mỗi tổng chia làm nhiều xã, mỗi xã lại chia nhiều thôn. Thành Thăng Long gồm 1 phủ, 2 huyện, 18 phường.

Quan cấp Huyện là Tả quản và Hữu quản, Tả quản coi việc hình luật, Hữu Quản coi về quân đội binh lính, Huyện trưởng làm đốc suất chung.

Về kinh tế, sau khi thu phục Bắc Hà, Nguyễn Huệ ra chiếu khuyến nông phục hồi nông nghiệp, lập sổ đinh, sổ điền chia ra các hạng, đẳng, ngạch để cân đối với việc thu tô thuế. Tham khảo hình luật từ các đời trước, Nguyễn Huệ thiết lập mô hình Bản Đường quan với chức năng thu tô thuế, dân đinh, và quản lý các lĩnh vực khác ở địa phương.

(3) Tổ chức quân đội:

Quân đội Tây Sơn bắt đầu hình thành từ tổ chức 5 Đồn: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu từ năm 1773. Sau này đội quân ngày càng lớn mạnh và đi vào quy mô tổ chức lớn hơn. Biên chế quân đội theo nguyên tắc Ngũ chế (Năm quân), gồm có Trung quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân.

Quân đội Tây Sơn còn chia các Đạo với tên gọi riêng là Càn Thanh, Thiên Can, Thiên Trường, Thiên Sách, Thiên Hùng, Hổ Bí, Hổ Hầu, Thị Thân, Thị Loan v.v… Người chỉ huy các đạo quân này là những viên Đô đốc.

Dưới các Đạo là các đơn vị Cấp cơ, sau này quân Tây Sơn còn có cấp Suất với chức Phân Suất, dưới cấp Suất còn có cấp Vệ.

Đơn vị quân đội nhỏ nhất thời Tây Sơn là cấp Đội đối với lực lượng bộ binh và tương đương cấp Đội là Thuyền nằm trong lực lượng Thủy quân. Đây là những đơn vị cơ sở của quân chính quy.

Chức vụ tướng lĩnh, cấp bậc tướng lĩnh của Tây Sơn tài liệu chép lại khá tản mạn. Trần Quang Diệu từng được phong: “Đặc sai phụ quốc Đại Tổng quản Thượng tướng quân”, sau này còn được gia phong chức Thiếu phó. Khang công Nguyễn Quang Thùy từng được gia phong “Tiết chế Thủy bộ chư doanh kiêm Tổng binh dân thứ vụ” cai quản Bắc Hà. Chức Đại tư mã được gia phong cho Ngô Văn Sở ở thời Quang Trung và Cảnh Thịnh.

Ngoài ra thì có một số chức khác như Tổng quản Siêu, Tư Lê, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy … Trung lang tướng và Vệ quân sứ.

(4) Nhận xét của tác giả:

Quan chế thời Tây Sơn cả văn quan và võ quan không có bộ chính sử nào ghi trọn vẹn, chỉ thấy rải rác trong các sách dã sử và tạp ký. Chỉ có một đoạn ghi trong Liệt truyện Tây Sơn ở Đại Nam chính biên liệt truyện là còn có tính chất thống kê tên chức quan Tây Sơn: “… Tam công, Tam thiếu, Đại Trung tể, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư hội, Đại Tư lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Tổng lý, Đại Đô hộ, Đại Đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Kiểm điểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ úy, Quán quân, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung thư sảnh, Trung thư lệnh, Phụng chính, Thị trung Đại học sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ, Thị trung Ngự sử, Lục bộ Thượng thư, Tả Hữu Đồng Nghị, Tả hữu Phụng nghị, Thị lang, Tư vụ, Hàn lâm,… các chức danh khác còn nhiều không thể kể hết ra được”. Tuy nhiên, ở đây ghi “Trung thư sảnh” vào là chưa hợp lý, vì Trung thư sảnh là tên cơ quan, còn Trung Thư lệnh mới là tên chức quan đứng đầu Trung thư sảnh.

Phải nói rằng ghi chép về thời Tây Sơn tuy tản mạn, trên nhiều dạng tư liệu khác nhau nhưng cũng cho ta thấy được tổ chức chính quyền quân đội giai đoạn này khá hoàn chỉnh.
=================
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 4(59) -2003 –Nguyễn Công Việt

Ảnh: Chiêú Nôm- Bút tích của Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp

Leave a Reply

Your email address will not be published.