Thứ tư, ngày 06/05/2026 13:08 GMT+7
Gia Khiêm Thứ tư, ngày 06/05/2026 13:08 GMT+7
Làng Vòng nghìn năm tuổi ở Hà Nội từng mang tên Nôm là thôn Hậu. Trải qua nghìn năm với nghề làm cốm, cùng với tốc độ đô thị hoá, sáp nhập, nơi đây từng nhiều lần đổi tên phường, tổ dân phố nhưng vẫn giữ tên làng. Giờ đây, người dân băn khoăn liệu tên làng Cốm Vòng trong tâm thức bao đời có biến mất?
Sáp nhập thôn, tổ dân phố: Từng suýt mất tên làng vì tranh luận đổi tên cổng làng
Nằm ngay sát đường Trần Thái Tông (phường Cầu Giấy, Hà Nội) đông đúc người qua lại, nhiều người dân Thủ đô không ai xa lạ với cổng làng Cốm Vòng nổi tiếng với nghề làm cốm truyền thống hàng nghìn năm tuổi. Trải qua thời gian, tốc độ đô thị hoá… từ nơi ngày ngày vang tiếng sàng giã gạo làm cốm giờ đây mai một, chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.

Mới đây, chủ trương sắp xếp thôn, tổ dân phố đang được triển khai rộng rãi tại nhiều địa phương. Trong bối cảnh đó, không ít tên làng thân quen đứng trước khả năng được điều chỉnh trong hệ thống gọi tên hành chính mới. Làng Cốm Vòng cũng không ngoại lệ, khi địa danh quen thuộc gắn với nghề làm cốm và đời sống làng nghề truyền thống này có thể đang nằm trong diện sắp xếp.
Chia sẻ với PV Dân Việt, ông Trần Ngọc Oanh – Tổ trưởng tổ dân phố 14 – Dịch Vọng Hậu, phường Cầu Giấy cho biết, làng Cốm Vòng có tên gọi xuất phát từ địa danh làng Vòng (tên Nôm là thôn Hậu) thuộc phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy (cũ). Sau sáp nhập đơn vị hành chính, trở thành phường Cầu Giấy mới.
Kể từ khi đảm nhiệm tổ trưởng tổ dân phố đến nay tròn 14 năm, ông Oanh cho biết, làng Vòng từ lâu trong tiềm thức, tên làng Cốm Vòng từ lâu không còn trong hệ thống hành chính. Tuy nhiên, thứ để mọi người nhớ đến duy nhất đó là trong tiềm thức nơi đây từng làm nghề cốm và cổng làng còn nguyên tên gọi.

“Là người dân gốc làng Cốm Vòng, chúng tôi rất sợ mất đi cái tên làng. Tôi nhớ ngay cả đợt làm cổng làng khá nhiều ý kiến tranh luận nên lấy chữ gì. Sau nhiều lần tranh luận mọi người quyết định vẫn để tên cổng là làng Cốm Vòng. Ngoài ra, về màu sắc mọi người cũng đưa ra ý tưởng sơn màu cốm. Duy nhất cổng ghi lại làng Cốm Vòng và đình Hậu, còn lại giờ đã đổi tên hết. Các tổ dân phố cũng đánh số thứ tự từ hàng chục năm qua. Ai cũng muốn giữ lại tên làng vì nó gắn với nếp sống nhiều thế hệ.
Có ông chú của tôi di cư từ năm 1945 vào Nam, mãi đợt mới đây mới tìm về. Chú chỉ biết mình sinh ra ở làng Cốm Vòng và con cháu tìm về được. Hỏi tên làng Cốm Vòng người ta vẫn nhớ ra vì nó gắn với lịch sử. Tôi sợ sau này gọi tên khác dần dần mai một rồi mất đi”, ông Oanh chia sẻ.

Tiếp lời ông Oanh, ông Đinh Văn Tiến (69 tuổi) gợi nhớ lại ký ức trước đây khi mỗi vụ mùa cả làng thơm lừng mùi lúa nếp mới. Nhà nhà, cả ngày lẫn đêm trong tiếng giã gạo làm cốm. Gia đình ông Tiến cũng như bao nhà có truyền thống làm cốm cả nghìn năm. Tuổi thơ của ông sinh ra lớn lên cũng gắn người dân làng Vòng.

Theo ông Tiến, cốm làng Vòng thơm ngon đặc trưng vì chỉ được làm từ lúa nếp cái hoa vàng. Làm cốm cũng đầy công phu. Lúa khum ngọn, còn sữa thì gặt đem về, không được vò hay đập mà phải tuốt, sau đó cho vào nồi rang. Cốm rang xong phải mang giã ngay, không được để nguội, trong quá trình giã không được giã mạnh tay quá cốm sẽ nát.
Khi giã phải luôn tay đảo cốm từ trên xuống, từ dưới lên cho đều. Giã khoảng 10 lần thì đem cốm đi sàng và hồ. Muốn làm được cốm ngon phải có đôi bàn tay khéo léo và nhạy cảm, theo kinh nghiệm và bí quyết riêng của từng nhà, bởi vậy ngày trước mới có tục lệ con gái làng Vòng đi lấy chồng xa không được truyền cho bí quyết, chỉ có con gái về làm dâu mới được chỉ bảo đến nơi đến chốn.

“Giờ cuộc sống đã khác, tốc độ đô thị hoá đất chật người đông nên không gian để làm cốm dần bị thu hẹp. Trải qua từng năm tháng giờ người làm cốm ở làng Cốm Vòng chỉ còn vài nhà. Tôi sau khi nghỉ thì hiện con cháu tiếp tục nối nghiệp”, ông Tiến cho hay.
Ông Tiến cũng lo ngại, giờ nghề làm cốm trong làng dần mai một, tên làng Cốm Vòng không hiện hữu trong hệ thống gọi tên hành chính dần dần sẽ biến mất. Tên làng chỉ trong tiềm thức người cao tuổi nơi đây, lớp trẻ về sau sẽ không còn nhắc tới nữa.
Cần có cách tiếp cận hài hòa giữa quản lý hành chính và bảo tồn văn hóa
Ông Trần Ngọc Oanh cho biết, Tổ dân phố số 14 – Dịch Vọng Hậu hiện chưa nắm được chủ trương sáp nhập tổ dân phố từ phường. Tất cả chỉ biết thông tin qua báo chí phản ánh và từ mạng xã hội và chưa có hướng dẫn cụ thể.

“Chúng tôi chỉ mới nghe thông tin phường giao cho Phòng Văn hoá – Xã hội để triển khai, trong tháng 5 phải hoàn thành mà nay tổ dân phố chưa nắm được, kể cả ý tưởng, tham khảo ý kiến cán bộ cơ sở các tổ chưa biết. Nguyện vọng của cộng đồng dân cư đa phần muốn giữ được tên cũ để tránh phiền hà khi làm thủ tục giấy tờ, đất đai… Tôi nhớ từ khi làm tổ trưởng dân phố ban đầu tổ này là 43 sau sáp nhập 3 tổ thành tổ dân phố 23, sau đổi tên 1 lần thành tổ 14. Sau khi sáp nhập một số phường của quận Cầu Giấy Cũ giờ thành tổ 14 – Dịch Vọng Hậu. Mỗi lần đổi như vậy phải đính chính rất mất thời gian”, ông Oanh nói.
Theo ông Oanh, hiện nay như phường có rất nhiều khu chung cư, sáp nhập tổ dân phố vừa làng vừa chung cư rất khó quản lý bởi chung cư ở các nơi về, nếp sống sinh hoạt cũng khác nhau. Bên cạnh đó, dân số một tổ cũng không nên rộng quá, khoảng 500-700 hộ/tổ dân phố mới thuận lợi.

“Hiện nay có 3 chức danh được hưởng phụ cấp gồm: Bí thư, Tổ trưởng dân phố, Trưởng ban công tác mặt trận. Nếu sáp nhập tới đây, địa bàn rộng hơn chắc chắn những người mới không thể nắm được thành viên ở tổ khác ngay được. Vì vậy, theo tôi vẫn nên giữ ít nhất 1 tổ phó để phối kết hợp. Hết 1 nhiệm kỳ bắt đầu thay đổi, điều chỉnh xem giữ ai lại”, ông Oanh đề xuất.
Liên quan đến vấn đề sáp nhập thôn, tổ dân phố, PGS.TS Bùi Xuân Đính, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, làng là một cộng đồng về tính cách và tâm lý, nơi hình thành “thói làng”, “nếp làng”. Dù cấu trúc vật chất có biến đổi nhưng lời ăn tiếng nói và cách ứng xử của con người vẫn mang đậm dấu ấn cộng đồng, khó thay đổi.

Do đó, theo ông Đính, khi thực hiện sắp xếp đơn vị dân cư và hành chính, cần đặc biệt lưu ý đến những giá trị hữu hình và vô hình về không gian làng theo hướng khoa học, hợp lý.
Bên cạnh vấn đề tên gọi, quá trình đô thị hóa nhanh ở nhiều địa phương cũng đặt ra không ít thách thức. Không gian sinh hoạt truyền thống bị thu hẹp, môi trường sản xuất thay đổi. Một số nơi, sự chuyển đổi từ xã lên phường trong thời gian ngắn đã tác động trực tiếp đến việc duy trì và tiếp nhận các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt đối với thế hệ trẻ trong nhận diện ranh giới giữa không gian làng cũ và khu dân cư mới. Quá trình trao truyền văn hóa giữa các thế hệ không theo kịp nhịp biến đổi nhanh chóng.
Ông Đính cho rằng, cần có cách tiếp cận hài hòa giữa quản lý hành chính và bảo tồn văn hóa. Dù không còn là đơn vị hành chính độc lập, làng vẫn là một thực thể văn hóa lưu giữ hệ thống di tích, phong tục và luật tục được hình thành qua tiến trình lịch sử. Vì vậy, trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố, việc đặt tên cần ưu tiên kế thừa những tên gọi lâu đời mang giá trị lịch sử, văn hóa. Các yếu tố về địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán của cộng đồng cư dân cần được xem xét đầy đủ nhằm duy trì mạch ký ức và tăng cường sự gắn kết xã hội. Cách đặt tên mang tính cơ học như đánh số hoặc ghép tên đơn thuần cần được hạn chế.
Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn cần đẩy mạnh lập hồ sơ, số hóa tư liệu về lịch sử, văn hóa làng xã; bảo tồn hệ thống hương ước, gia phả, lễ hội và di tích… Các thành tố của không gian văn hóa làng như đình, chùa, miếu, văn chỉ, giếng làng, cây đa… cần được bảo vệ trong quy hoạch phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới.
Chính quyền địa phương cần có giải pháp khuyến khích cộng đồng duy trì phong tục và sinh hoạt văn hóa dân gian phù hợp với điều kiện hiện nay. Cơ quan quản lý văn hóa cần kịp thời ban hành hướng dẫn cụ thể về bảo tồn tên gọi và không gian văn hóa truyền thống trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính.