PHỤ NỮ THẬT SỰ MUỐN GÌ?

Trích dẫn Chương 19: Trí tuệ của Mona Lisa, cuốn sách Tình Dục Thuở Hồng Hoang

Tôi có mâu thuẫn với chính mình hay không?

Tôi rất mâu thuẫn với chính mình,

(Tôi to lớn, tôi chứa cả đám đông).

— Walt Whitman, Song of Myself 
(tạm dịch: Tự hát)

Đối diện với những bí ẩn của phụ nữ, Sigmund Freud, người vốn luôn có câu trả lời cho bất cứ vấn đề nào, cũng phải chịu bó tay. “Dù có tới 30 năm nghiên cứu tâm hồn phụ nữ”, ông viết, “tôi vẫn chưa thể nào trả lời nổi… một câu hỏi lớn: phụ nữ muốn gì?”

Không phải ngẫu nhiên mà BBC gọi “hình ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật” là một cuộc nghiên cứu về phụ nữ bí hiểm do một nam nghệ sĩ đồng tính tiến hành. Suốt nhiều thế kỷ, đàn ông vẫn luôn tự hỏi Mona Lisa của Da Vinci đang nghĩ gì. Phải chăng nàng ấy đang mỉm cười? Hay là nàng ấy giận? Thất vọng? Mệt mỏi? Buồn nôn? Buồn bã? Xấu hổ? Hứng tình? Không đáp án nào đúng?

Có lẽ gần hơn với tất cả những điều trên. Phải chăng nàng ấy tự mâu thuẫn với chính mình? Rất có thể. Bức Mona Lisa rất lớn. Giống như mọi phụ nữ, nhưng hơn thế – giống như tất cả những gì thuộc về giống cái – nàng ấy phản ánh mọi giai đoạn của mặt trăng. Nàng ấy chứa cả đám đông.

Cuộc hành trình tìm hiểu sâu hơn về “tâm hồn phụ nữ” của chúng ta bắt đầu trên một cánh đồng bùn lầy ở miền quê nước Anh. Đầu những năm 1990, nhà khoa học thần kinh Keith Kendrick và đồng nghiệp tiến hành hoán đổi cừu non và dê non trong một năm (cừu non do dê trưởng thành nuôi và ngược lại). Sau đó vài năm khi đạt tới độ tuổi thuần thục về tình dục, lũ gia súc này tái hợp với giống loài của mình và người ta theo dõi hành vi giao phối của chúng. Những con cái thì chọn cách tiếp cận yêu-người-ở-cạnh-mình, thể hiện sẵn sàng giao phối với con đực của cả hai loài. Nhưng mấy con đực, ngay cả khi đã trở về với giống loài của mình sau ba năm, vẫn chỉ giao phối với loài nuôi chúng lớn lên.

Những cuộc nghiên cứu như thế này cho thấy khác biệt lớn về mức độ “mềm dẻo (khả năng thay đổi) trong tình dục” ở con đực và con cái của nhiều loài – kể cả chúng ta. Nhà tâm lý học Roy Baumeister lập luận rằng động lực tình dục của con cái về cơ bản là dễ thay đổi hơn con đực. Độ mềm dẻo về tình dục lớn hơn khiến hầu hết phụ nữ có trải nghiệm tình dục với nhiều thay đổi hơn so với đàn ông và hành vi tình dục của phụ nữ dễ thích ứng hơn nhiều trước áp lực của xã hội. Khả năng mềm dẻo lớn hơn này có thể thể hiện qua những thay đổi về (những) người mà phụ nữ muốn, muốn đến mức nào và cách cô ấy thể hiện khao khát của mình ra sao. Những chàng trai trẻ trải qua một thời kỳ ngắn trong đó hoạt động tính dục của họ giống như sáp nóng chờ được đóng dấu, nhưng sáp nhanh chóng nguội đi và cứng lại, để lại dấu ấn cho đời. Đối với phái nữ, dường như sáp mềm dẻo mãi trong suốt cuộc đời.

Sự mềm dẻo tình dục lớn hơn này thể hiện trong các phản ứng toàn diện hơn của phụ nữ đối với hình ảnh và suy nghĩ về tình dục. Năm 2006, nhà tâm lý học Meredith Chivers tiến hành một thử nghiệm, trong đó bà chiếu các loại video tình dục cho đàn ông và phụ nữ, cả dị tính lẫn đồng tính xem. Các video này bao gồm nhiều thể loại tình dục có thể: đàn ông/phụ nữ, đàn ông/đàn ông, phụ nữ/phụ nữ, một nam thủ dâm, một nữ thủ dâm, một anh chàng cơ bắp đi bộ trần truồng trên bãi biển, và một phụ nữ thon thả trần truồng tập luyện. Thậm chí bà còn cho họ xem một đoạn phim có cảnh tinh tinh lùn giao phối.

Trong khi các đối tượng của bà bị vùi dập bằng cuộc tấn công của những khoái lạc tình dục đa dạng này, họ có các nút bấm để thông báo mức độ hứng tình mà họ cảm nhận được. Bên cạnh đó, cơ quan sinh dục của họ được nối với máy ghi thể tích. Như thế có phạm pháp không? Không, máy đo thể tích không phải là thiết bị tra tấn (hơn nữa, cũng không phải là khủng long). Nó đo lượng máu chảy tới cơ quan sinh dục, một chỉ báo chắc chắn cho thấy cơ thể đã sẵn sàng cho tình yêu. Hãy xem nó như chiếc máy phát hiện nói dối trong tình dục.

Chivers phát hiện được điều gì? Dù là đồng tính hay dị tính thì nam giới đều dễ đoán. Những thứ khiến họ hứng tình là những thứ bạn nghĩ tới. Các anh chàng dị tính phản ứng với bất cứ điều gì liên quan đến phụ nữ khỏa thân, nhưng hờ hững khi chỉ có đàn ông trên màn hình. Các anh chàng đồng tính cũng tương tự, có điều ngược 180 độ. Và các anh chàng cả dị tính lẫn đồng tính đều dùng bàn phím chỉ ra điều mà dòng máu tới cơ quan sinh dục của họ đang nói. Hóa ra đàn ông có thể nghĩ bằng “hai đầu” cùng lúc, và cả hai có xu hướng nghĩ đến cùng một thứ.

Mặt khác, các đối tượng nữ lại chính là bức tranh về sự bí hiểm. Bất kể định hướng tình dục của họ thế nào, kim máy ghi thể tích của họ đều giật giật trước mọi thứ họ thấy. Bất kể họ đang quan sát nam với nam, nữ với nữ, anh chàng trên bãi biển, cô nàng tập thể dục, hay tinh tinh lùn trong vườn thú, thì máu ở cơ quan sinh dục vẫn bơm. Như Daniel Bergner chỉ ra trong một nghiên cứu đăng trên tờ The New York Times,  “Đối với phụ nữ… đầu óc và cơ quan sinh dục dường như không thuộc về cùng một người.” Khi xem cả cặp đôi nữ và cặp đôi nam đồng tính, dòng máu âm hộ của phụ nữ dị tính cho thấy nhiều kích thích hơn những gì họ thú nhận trên bàn phím. Khi xem các đôi dị tính lãng mạn kiểu ngày xưa, mọi thứ nảy hết cả lên và họ cho biết có nhiều kích thích hơn so với cơ thể họ chỉ ra. Cả người nữ dị tính và đồng tính đều tuyên bố gần như không có phản ứng gì đối với hành động của tinh tinh lùn với nhau, mặc dù một lần nữa, cơ thể của họ cho thấy họ vẫn thích điều đó.

Sự thiếu ăn khớp giữa những gì phụ nữ trải nghiệm ở cấp độ thể chất và những gì họ báo cáo ở cấp độ ý thức chính là những gì lý thuyết mềm dẻo tình dục chênh lệch dự báo. Cũng có thể cái giá cho sự linh hoạt lớn hơn về mặt tình dục của phụ nữ là khó biết hơn và, phụ thuộc vào những hạn chế văn hóa có thể gặp phải, chấp nhận những gì họ đang cảm nhận. Cần phải nhớ điều này khi xem xét đến việc tại sao lại có nhiều phụ nữ cho biết ít quan tâm đến tình dục hoặc khó đạt cực khoái[1].

Nếu bạn vẫn chưa thấy bối rối, hãy nghĩ đến cuộc nghiên cứu mà qua đó nhà tâm thần học Andrey Anokhin và đồng nghiệp phát hiện rằng hình ảnh tình dục khơi dậy trong não phụ nữ những phản ứng nhanh hơn và mạnh hơn so với những hình ảnh vui vẻ hoặc đáng sợ. Họ cho 264 phụ nữ xem một bộ sưu tập những hình ảnh nằm ngẫu nhiên, từ những con chó đang gầm gừ, người lướt ván, đến các cặp đôi bán khỏa thân đầy nóng bỏng. Não những người phụ nữ này phản ứng với các hình ảnh tình dục nhanh hơn khoảng 20% so với những hình ảnh khác. Với nam giới, phản ứng háo hức này đúng như dự kiến, nhưng kết quả ở những phụ nữ được cho là kém tinh và kém dâm đãng khiến cho các nhà nghiên cứu phải ngạc nhiên.

Óc tình dục ở phụ nữ đầy những bất ngờ. Các nhà nghiên cứu Hà Lan sử dụng kỹ thuật ghi hình bằng bức xạ positron (PET) [positron emission tomography] để quét não 13 phụ nữ và 11 nam giới trong cơn quằn quại cực khoái. Trong khi sự ngắn ngủi của cơn cực khoái nam khiến họ khó có được những chỉ số đáng tin cậy thì sự tích cực cao độ mà họ thấy ở vỏ não thể giác thứ cấp (liên quan đến cảm giác của bộ phận sinh dục) lại là điều họ dự tính. Nhưng não của những người phụ nữ lại khiến các nhà nghiên cứu bối rối. Có vẻ như não phụ nữ rơi vào trạng thái chờ khi lên đỉnh. Có gì tăng nhẹ trong hoạt động não của phụ nữ thể hiện ra trong vỏ não thể giác sơ cấp, vốn có chức năng ghi nhận sự hiện diện của cảm giác, nhưng không mấy hào hứng.

“Ở phụ nữ, cảm giác chính là ở đó”, một nhà nghiên cứu trong nhóm cho biết, “nhưng không phải là điểm nhấn khiến điều này được coi là chuyện lớn. Đối với nam giới, bản thân sự đụng chạm là quan trọng nhất. Đối với phụ nữ, điều này không mấy quan trọng.”

Mỗi phụ nữ đều biết chu kỳ kinh nguyệt của mình có thể ảnh hưởng sâu sắc đến độ hứng tình của mình. Các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha260 khẳng định rằng phụ nữ có cảm giác mạnh hơn về hấp dẫn và khao khát quanh thời điểm rụng trứng, trong khi những người khác cho rằng phụ nữ thấy gương mặt nam tính theo kiểu cổ điển hấp dẫn hơn quanh thời điểm rụng trứng, chọn những anh chàng trông kém sáng sủa hơn khi không có khả năng thụ thai. Vì thuốc tránh thai tác động đến kỳ kinh, nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nó cũng có khả năng tác động đến hình mẫu hấp dẫn của phụ nữ. Nhà nghiên cứu người Scotland là Tony Little nhận thấy đánh giá của phụ nữ đối với đàn ông làm người chồng tiềm năng thay đổi khi họ dùng thuốc tránh thai. Little nghĩ rằng phát hiện của mình có thể mang lại hệ quả xã hội rất lớn: “Phụ nữ chọn bạn tình khi đang trong giai đoạn uống thuốc tránh thai và khi ngừng thuốc để có con, những sở thích do hormone thúc đẩy của cô ấy thay đổi và có thể cô ấy sẽ thấy mình lấy phải nhầm người.”

Lo lắng của Little không phải là không có cơ sở. Năm 1995, nhà nghiên cứu sinh học Thụy Sĩ Clause Wedekind công bố kết quả của thứ bây giờ được biết đến với tên gọi “Thí nghiệm áo thun đẫm mồ hôi”. Ông yêu cầu phụ nữ ngửi những chiếc áo thun mà đàn ông đã mặc vài ngày, không dùng nước hoa, xà phòng, hay tắm rửa. Wedekind nhận thấy, và các nghiên cứu sau đó xác nhận, rằng hầu hết phụ nữ đều bị hấp dẫn bởi mùi của những người đàn ông có tổ hợp tương hợp trong các mô chính (MHC – major histo-compatibility complex) khác với mình.261 Sở thích này có ý nghĩa về mặt di truyền học ở chỗ MHC chỉ ra phạm vi miễn dịch đối với các loại mầm bệnh. Con cái của những cặp cha mẹ có hệ miễn dịch khác nhau có khả năng được hưởng lợi từ một phản ứng miễn dịch rộng lớn hơn, mạnh khỏe hơn.

Vấn đề là dường như phụ nữ uống thuốc tránh thai không cho thấy phản ứng tương tự đối với các tín hiệu mùi hương nam giới này. Những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai chọn áo thun của nam giới một cách ngẫu nhiên, hoặc thậm chí tệ hơn, thể hiện sở thích đối với những người có hệ miễn dịch tương tự mình.

Hãy xem xét những hệ quả này. Nhiều cặp đôi gặp nhau khi người phụ nữ đang uống thuốc tránh thai. Họ dạo chơi một lúc, thích nhau, rồi quyết định ở cùng nhau và xây dựng gia đình. Nàng ngừng uống thuốc, có thai và sinh con. Nhưng có điều gì đó dường như không còn đúng nữa. Có gì đó ở chàng khiến nàng thấy khó chịu – điều mà nàng chưa từng nhận thấy trước đây. Có thể nàng thấy chàng không hấp dẫn về mặt tình dục, và khoảng cách giữa họ ngày càng lớn. Nhưng ham muốn của nàng thì vẫn ổn. Nàng đỏ mặt mỗi khi đến đủ gần để ngửi thấy mùi thầy giáo dạy tennis của mình. Cơ thể của nàng không còn im lặng bởi những tác động của thuốc tránh thai nữa, giờ đây có thể đang nói với nàng rằng chồng nàng không hợp với nàng về mặt di truyền. Nhưng đã quá muộn. Họ đổ lỗi cho áp lực công việc, sự căng thẳng của việc làm cha mẹ, đổ lỗi cho nhau…

Đâu là nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe của con họ bởi cặp đôi này vô tình để lỡ một bài kiểm tra quan trọng về tương thích sinh học? Bao nhiêu cặp đôi tự trách mình một cách không cần thiết vì đã “thất bại” theo một nghĩa nào đó? Bao nhiêu gia đình tan vỡ bởi chuỗi sự kiện phổ biến, bi kịch và không được phát hiện này?

Nhà tâm lý học Richard Lippa đã phối hợp cùng BBC khảo sát hơn 200.000 người đủ mọi lứa tuổi trên khắp thế giới quan tâm đến sức mạnh của động lực tình dục và ảnh hưởng của nó đối với ham muốn của họ ra sao. Ông cũng tìm thấy sự đảo ngược tương tự ở hoạt động tính dục nam và nữ: đối với đàn ông, cả đồng tính lẫn dị tính, động lực tình dục cao hơn sẽ làm tăng nét đặc trưng của ham muốn tình dục trong họ. Nói cách khác, một anh chàng dị tính có động lực tình dục cao sẽ có xu hướng chỉ tập trung vào phụ nữ, trong khi động lực tình dục cao ở một anh chàng đồng tính sẽ khiến anh ta chú ý nhiều hơn vào đàn ông. Nhưng với phụ nữ – ít nhất là phụ nữ dị tính – thì ngược lại: động lực tình dục càng cao thì càng có nhiều khả năng cô ấy chú ý tới cả đàn ông lẫn phụ nữ. Phụ nữ đồng tính lại khá tương đồng với nam giới: động lực tình dục cao đồng nghĩa với việc tập trung vào riêng phụ nữ mà thôi. Có lẽ điều này giải thích tại sao số phụ nữ tự coi mình là lưỡng tính cao gần gấp đôi nam giới, trong khi số nam giới tự coi mình là đồng tính chỉ bằng một nửa.

Những ai cho rằng điều này có nghĩa là nam giới có nhiều khả năng kiềm chế một số tính cách lưỡng tính phổ biến của con người, thì hãy nghĩ đến các bản quét chụp ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) của nhà tình dục học Michael Bailey đối với não đàn ông dị tính và đồng tính khi xem ảnh khiêu dâm. Họ phản ứng theo xu hướng của nam giới: đơn giản và thẳng thắn. Các anh chàng đồng tính thích những bức ảnh đàn ông với đàn ông, trong khi các anh chàng dị tính quan tâm đến những bức ảnh phụ nữ. Bailey tìm kiếm sự kích hoạt của các khu vực não liên quan đến việc kiềm chế để xem liệu các đối tượng của mình có đang phủ nhận một khuynh hướng lưỡng tính hay không. Không hề. Cả đàn ông đồng tính lẫn dị tính đều không ai thể hiện sự kích hoạt khác thường đối với các khu vực này khi xem ảnh. Các thử nghiệm khác sử dụng hình ảnh tiềm thức đều mang lại kết quả tương tự: tất cả mọi đàn ông đồng tính, đàn ông dị tính, phụ nữ đồng tính đều phản ứng như dự tính đối với định hướng tình dục của mình; phụ nữ dị tính trên phương diện lý thuyết (“tôi chứa đựng số đông”) phản ứng với hầu hết mọi thứ. Đây là cách chúng ta kết nối với nhau, chứ không hề là kết quả của sự kiềm chế hay phủ nhận.

Tất nhiên, không khó để tìm ra những dấu hiệu kiềm chế trong các cuộc nghiên cứu về tình dục. Rất nhiều là đằng khác. Chẳng hạn, một trong những bí ẩn lâu đời nhất của hoạt động tính dục loài người là đàn ông dị tính có xu hướng có nhiều quan hệ tình dục và bạn tình hơn phụ nữ dị tính – một điều bất khả về mặt toán học. Các nhà tâm lý học Terry Fisher và Michele Alexander quyết định xem xét kỹ hơn về tuyên bố của mọi người liên quan đến độ tuổi trải nghiệm tình dục lần đầu, số bạn tình, tần suất sinh hoạt tình dục.264 Fisher và Alexander sắp đặt ba trường hợp kiểm tra khác nhau:

Trường hợp đối tượng được dẫn dắt để tin rằng các nhà nghiên cứu đang chờ ngay bên ngoài căn phòng đã nhìn thấy câu trả lời của mình;

Trường hợp đối tượng có thể trả lời các câu hỏi một cách riêng tư và ẩn danh;

Trường hợp đối tượng được gắn điện cực lên bàn tay, cánh tay và cổ – tự nghĩ rằng bản thân (giả) được gắn với thiết bị phát hiện nói dối.

Những người phụ nữ nghĩ rằng câu trả lời của mình có thể được nhìn thấy cho biết trung bình có 2,6 bạn tình (mọi đối tượng đều là sinh viên dưới 25 tuổi). Những người nghĩ rằng câu trả lời của mình được ẩn danh cho biết có 3,4 bạn tình, trong khi những người nghĩ rằng nếu nói dối sẽ bị phát hiện cho biết bình quân có 4,4 bạn tình. Như vậy, trong khi phụ nữ thừa nhận có thêm 70% bạn tình khi họ nghĩ rằng không thể nói dối thì câu trả lời của nam giới gần như không có khác biệt nào. Các nhà nghiên cứu tình dục, vật lý học, nhà tâm lý học (và bố mẹ) cần phải nhớ rằng câu trả lời của phụ nữ đối với những câu hỏi như vậy có thể phụ thuộc vào câu hỏi đó được đặt ra khi nào, ở đâu, như thế nào và ai đang hỏi.

Nếu đúng là hoạt động tính dục của phụ nữ phụ thuộc nhiều hơn vào bối cảnh so với nam giới, thì chúng ta cần phải xem xét lại những gì chúng ta nghĩ là mình biết về hoạt động tính dục của phụ nữ. Bên cạnh những méo mó do định kiến về tuổi tác mà chúng ta thảo luận trên đây (những người 20 tuổi có đại diện được không?), phản ứng của những phụ nữ trả lời câu hỏi trong một lớp học hoặc bối cảnh phòng thí nghiệm lạnh lẽo hữu ích như thế nào? Hiểu biết của chúng ta về tính dục nữ sẽ khác ra sao nếu George Clooney đi phát bản câu hỏi bên ánh nến và thu lại chúng sau một ly rượu vang trong bể sục Jacuzzi?

Nhà tình dục học Lisa Diamond đã dành hơn một thập kỷ nghiên cứu những biến động của ham muốn ở phụ nữ. Trong cuốn Sexual Fluidity (tạm dịch: Sự bất thường của tính dục), bà cho biết nhiều phụ nữ tự thấy bị hấp dẫn bởi những người cụ thể chứ không phải là với giới tính của họ. Theo quan điểm của Diamond, phụ nữ hưởng ứng sự thân mật về mặt cảm xúc mạnh mẽ đến mức định hướng giới tính bẩm sinh có thể dễ dàng bị lấn át. Chivers đồng ý: “Về mặt thể chất, dường như phụ nữ không phân biệt giới tính trong phản ứng tình dục của mình, ít nhất là ở phụ nữ dị tính.”

Rõ ràng, nhiều phụ nữ thấy Mona Lisa mỉm cười lại với mình trong gương.

Đâu là tác động thực tế của sự khác biệt quan trọng này trong độ mềm dẻo tình dục? Ban đầu, chúng tôi mong muốn tìm thấy hành vi lưỡng tính tình huống tạm thời ở phụ nữ nhiều hơn ở nam giới. Nhiều nghiên cứu đa dạng về các cặp đôi khác giới tham gia vào tình dục tập thể hoặc “đổi vợ/chồng” đồng ý rằng phụ nữ làm tình với phụ nữ trong những tình huống này phổ biến hơn nhiều so với nam giới với nam giới. Bên cạnh đó, mặc dù chúng tôi là những người cuối cùng cho rằng văn hóa đại chúng là chỉ số đáng tin cậy của hoạt động tính dục bẩm sinh loài người, không phải ngẫu nhiên khi nữ hôn nữ đã nhanh chóng được chấp nhận là hành vi chính thống trong khi mô tả nam giới hôn nhau trên ti vi hoặc phim ảnh lại là điều bất bình thường và gây tranh cãi. Có lẽ hầu hết phụ nữ khi thức dậy vào buổi sáng sau trải nghiệm tình dục đồng giới đầu tiên của mình đều quan tâm đến việc tìm cà phê hơn là hốt hoảng đánh giá về nhân dạng tình dục của mình. Đối với hầu hết phụ nữ, dường như bản chất tình dục bao gồm cả quyền tự do thay đổi khi cuộc sống thay đổi quanh họ.

Dù sao đi nữa, trong sự phức tạp của Mona Lisa có một sự đơn giản mang tính giải phóng mà có vẻ như Freud đã bỏ qua. Câu trả lời dành cho Freud không thể đơn giản hơn, đó là: chứa đựng đám đông. Phụ nữ muốn gì? Còn tùy.

[1] Sự thiếu ăn khớp này cũng liên quan tới các nghiên cứu về ghen tuông mà chúng tôi đã thảo luận trong Chương 9.

Leave a Reply

Your email address will not be published.