(Nguyễn Đỗ Thuyên)
Chúng ta đều hiểu chính trị theo nghĩa chung nhất là toàn bộ các hoạt động liên quan đến tìm kiếm, duy trì và phân bổ quyền lực. Chính vô số các tương tác chính trị của vô số cá nhân, tổ chức đã hình thành nên trật tự chính trị của mỗi quốc gia, mỗi khu vực, qua mỗi giai đoạn lịch sử.
Tuy vậy, có khi nào chúng ta đặt câu hỏi:
Tại sao lại xuất hiện hình thái nhà nước phong kiến?
Tại sao phong kiến châu Âu khác phong kiến Trung Hoa?
Tại sao trật tự thế giới hiện tại là như thế? Có tác nhân gì, quy luật gì trong quá khứ đã tác động đến nó?
Những tác nhân, quy luật đó vẫn còn tồn tại hay đã biến mất?…
Có thể gộp chung lại các câu hỏi trên thành một câu hỏi lớn: Đâu là Nguồn gốc của Trật tự chính trị?
Francis Fukuyama có tham vọng trả lời câu hỏi lớn này thông qua cuốn sách cùng tên. Rõ ràng, các tương tác chính trị được thực thi bởi con người. Cho nên, tìm về nguồn gốc trật tự chính trị cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu những động lực chính trị sâu xa nhất của con người kể từ thời tiền sử. Thông qua việc trích dẫn nhiều công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực liên quan như nhân học xã hội, sinh học tiến hóa, khảo cổ học… cho đến các nghiên cứu của Thomas Hobbs, John Locke, Rousseau…, Fukuyama đào sâu hơn về trạng thái tự nhiên và bản chất chính trị của con người. Những kết luận quan trọng mà ông rút ra được là:
Mong muốn truyền lại tài nguyên cho thân tộc là một trong những hằng số lâu bền nhất trong đời sống chính trị của loài người.
Liên kết xã hội với các nhóm dựa trên huyết thống là một phần hành vi tồn tại từ trước khi loài người hiện đại xuất hiện.
Chính những bản chất xã hội trong hành vi con người đã là một nguyên nhân quan trọng cản trở sự hình thành một nhà nước mạnh với hệ thống quan liêu phân cấp và khách quan. Bởi vì con người luôn có xu hướng cất nhắc người thân vào hệ thống cũng như tìm kiếm các đặc lợi cho người thân (quá trình “thân tộc hóa”), hệ quả là nhà nước sẽ không thể duy trì được hệ thống tuyển chọn khách quan, chất lượng của bộ máy sẽ đi xuống, kèm theo vấn nạn tham nhũng và tư lợi. Và như vậy, Trật tự chính trị – theo Fukuyama – thực chất chính là cuộc chiến của nhà nước khách quan chống lại quá trình Thân tộc hóa và Tái thân tộc hóa.
Trật tự chính trị ấy đã diễn ra như thế nào ở các nhà nước nổi bật? Fukuyama lựa chọn Trung Hoa, Ấn Độ, thế giới Islam giáo và châu Âu Kito giáo để làm đơn vị, lần lượt phân tích 03 trụ cột của một mô hình dân chủ tự do hiện đại: Nhà nước, Pháp quyền và Trách nhiệm giải trình.
1 – NHÀ NƯỚC TRUNG HOA CHỐNG LẠI CHỦ NGHĨA THÂN TỘC: THƯƠNG ƯỞNG VÀ NHÀ TÂY HÁN
Trung Quốc xứng đáng là mô hình chuẩn mực để phân tích cách một nhà nước hình thành mà không phải một số mô hình nổi bật khác bởi nhiều lí do:
(i) Nhiều thành tố của nhà nước hiện đại đã xuất hiện ở Trung Quốc từ thế kỷ 3 TCN – sớm hơn 1.800 năm so với châu Âu;
(ii) Sự hạn chế của thành bang Hy Lạp và Cộng hòa La Mã, vốn tự giới hạn nó ở những xã hội nhỏ và đồng nhất;
(iii) Nhà nước ở Trung Quốc mang tính hiện đại theo định nghĩa của Max Weber nhiều hơn so với bất kỳ nơi nào khác. Ngay cả khi so sánh với Đế quốc La Mã thì diện tích lãnh thổ và số lượng dân số được cai trị ở Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế hơn.
Từ thời kỳ bộ lạc (với văn hóa Ngưỡng Thiều, văn hóa Long Sơn, thời Tam đại Hạ – Thương – Chu), Trung Hoa đã chuyển dịch sang xã hội cấp nhà nước ở thời Tần Hiếu công và Thương Ưởng. Nếu như trong “xã hội thân tộc” thời Chu, đất nước được sở hữu bởi các lãnh chúa địa phương và nhóm thân tộc của họ; trật tự xã hội thân tộc này đã dần bị phá vỡ bởi nhu cầu chiến tranh liên tục.
Những thống kê về số năm có chiến trận, số cuộc chiến, số chính thể chính trị bị xóa sổ, % dân số được huy động ra chiến trường… của hai thời đại Xuân Thu và Chiến Quốc cho thấy mức độ nghiêm trọng của chiến tranh ở Trung Quốc so với phương Tây cùng giai đoạn đó. Mặt tích cực là chiến tranh cường độ cao đã thúc đẩy các thể chế mới liên tục xuất hiện để thay thế những thể chế cũ trong các lĩnh vực quan trọng:
(i) Tổ chức quân sự (chuyển dịch từ xa binh sang bộ binh, văn hóa “trọng dụng nhân tài” và nguyên tắc “thăng tiến nhờ công trạng” dần chiếm ưu thế so với nguyên tắc lựa chọn lãnh đạo dựa trên quan hệ dòng tộc);
(ii) Đánh thuế và đăng ký dân số (nhu cầu huy động nguồn lực lớn dẫn đến cải cách ruộng đất, tính lại cơ sở thuế…);
(iii) Bộ máy quan liêu phát triển (Nhu cầu thu thuế, lưu giữ hồ sơ và dịch vụ hậu cần quân đội làm xuất hiện bộ máy quan liêu. Viên chức bắt đầu được lựa chọn dựa vào năng lực chứ không phải quan hệ họ tộc);
(iv) Tư tưởng (Bách gia chư tử xuất hiện, các hệ tư tưởng lớn như Nho giáo, Pháp gia… xung đột và phát triển. Các phần tử trí thức thoải mái lưu động khắp quốc gia tạo nên nền văn hóa quốc gia sơ khởi).
Trong dòng chảy chiến tranh và cải cách đó, nhân vật nổi bật nhất là vị Tả thứ trưởng, (sau này là) Đại lương tạo của vua Tần Hiếu công – Thương quân Thương Ưởng.
Thương Ưởng có nhiều cải cách được coi là nguyên do chính khiến quốc lực nhà Tần lớn mạnh, quân đội nhà Tần hùng cường, tạo nền móng cho Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc gần một trăm năm sau. Tuy nhiên, nếu nhìn sự dịch chuyển trật tự chính trị theo khung lý thuyết về sự kháng cự của “thân tộc hóa” trước “nhà nước khách quan” của Fukuyama, thì cải cách quan trọng nhất của Thương Ưởng chính là việc đè nén quý tộc, xóa tên khỏi gia phả những người không đánh trận lập công, đồng thời ban tước vị theo quân công thu được cho bách tính. Các đặc quyền cha truyền con nối của hệ thống hành chính thân tộc hiện hữu bị phá vỡ, khiến mô hình nhà nước thời Tần trở nên khách quan hơn và tập trung vào chính quyền hơn.
Từ Trung Hoa nhìn sang châu Âu, một cách tự nhiên, nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi: Tại sao hệ thống nhà nước Trung Quốc đa cực của thế kỷ III TCN cuối cùng đã hợp nhất thành một đế chế lớn duy nhất, trong khi ở châu Âu thì không?
Theo Fukuyama, có mấy lí do chính:
(i) Yếu tố địa lý (châu Âu bị chia cắt nhiều hơn bởi núi cao, rừng rậm, biển cả… trong khi đế chế đầu tiên của Trung Quốc khởi phát dọc theo trục Đông-Tây từ thung lũng sông Vị đến bán đảo Sơn Đông. Khi vùng lõi này được hợp nhất, nhà nước đó tiếp tục mở rộng về nam, bắc và tây nam);
(ii) Văn hóa (Sự khác biệt về sắc tộc và ngôn ngữ giữa các bộ lạc Thương-Chu không rõ nét như của người La Mã, German, Viking, Slav… Cho nên các cá nhân như Khổng Tử, Thương Ưởng có thể lưu động khắp các nước và truyền bá tư tưởng của họ. Mức độ đồng nhất văn hóa cũng ngày càng lớn);
(iii) Châu Âu chưa từng xuất hiện kiểu chính thể chuyên chế như nhà Tần (Cơ sở quyền lực của quý tộc Trung Quốc trong một dòng tộc được khuếch tán về mặt địa lý và đan xen với các dòng tộc khác, trái với chủ quyền chính trị địa phương có sự phân cấp mạnh ở châu Âu. Chúng cũng không được bảo vệ bởi luật pháp và đặc quyền tổ tiên để lại như ở châu Âu. Cho nên, qua nhiều thế kỷ chiến tranh bộ lạc, hàng ngũ quý tộc thời trước tàn lụi và nhường lại không gian cho các nhóm quyền lực khác (chẳng hạn các lãnh đạo khởi nghĩa nông dân, các công thần khai quốc của triều đại mới). Cứ như thế, Trung Quốc thời nhà Chu không bao giờ có thể sản sinh ra một tầng lớp quý tộc quá mức quyền lực có thể sở hữu lượng lớn đất đai thế tập như ở châu Âu. Thay vào đó, ở Trung Quốc xuất hiện một nhà nước tập quyền hiện đại, nó đánh bại hết các đối thủ tiềm năng của mình (chẳng hạn chủ nghĩa thân tộc) từ rất sớm).
2 – ĐẶC SẢN TƯ TƯỞNG “ĐẠI NHẤT THỐNG” CỦA TRUNG HOA
Bên cạnh những kiến giải trên, người viết muốn bổ sung một chút dựa trên quan điểm về “tư tưởng Đại nhất thống” được Lê Đông Phương nêu ra trong tác phẩm “Kể chuyện Tần Hán”. Không rõ là ở châu Âu có những tư tưởng tương tự hay không, nhưng rõ ràng lý tưởng “Đại nhất thống” là một lý luận quan trọng được cả Nho gia và Pháp gia thời tiền Tần nhấn mạnh. Chẳng hạn, kinh học Nho gia có câu “Phổ thiên chi hạ, Mạc phi vương thổ, Suất thổ chia tân, mạc phi vương thần” – tức là “Khắp dưới gầm trời, Đều là đất vua, Người ở khắp nơi, đều là tôi vua”. Chính Khổng Tử cũng từng nói “Trên trời không có hai mặt trời, Dưới đất không có hai vua”.
Lý luận chính trị của Pháp gia thời kỳ đầu vốn lấy việc nhất nguyên hóa quyền lực của vua làm xuất phát điểm, lại càng coi trọng sự thống nhất. Chẳng hạn Thận Tử cho rằng quân quyền lấy việc thống trị thiên hạ làm trách nhiệm chính trị. Hoặc như sách “Hàn Phi Tử” nhắc đến “thiên hạ” 267 lần, với những cách nói “xưng bá thiên hạ”, “làm vương thiên hạ”, “sửa thiên hạ thành một”… Việc lấy “thiên hạ” làm đối tượng quản lý cho thấy ý thức “Đại nhất thống” đã thâm nhập vào hạt nhân lý luận của Pháp gia.
Nhu cầu thống nhất thiên hạ vì vậy là một thực tiễn được cả xã hội Trung Quốc khi đó coi là tất nhiên, mưu cầu xây dựng thể chế chính trị “Đại nhất thống” đã trở thành mục tiêu mười phần cấp thiết. Rất có thể, xã hội châu Âu ở cùng thời điểm đã không có được những sự vận động về văn hóa và tư tưởng tương tự làm hậu thuẫn cho động lực chinh phạt, thống nhất. Cho nên, bất chấp những nỗ lực của Louis XIV, Napoleon hay Hitler, chưa từng có một nhà nước duy nhất nào có thể thống trị cả châu lục này.
Công cuộc phát triển nhà nước ở thời Tây Hán và Đông Hán có lẽ là giai đoạn lịch sự khá quen thuộc với nhiều người bởi sự phổ biến của “Sử ký Tư Mã Thiên”, “Hán Sở tranh hùng” và “Tam Quốc Diễn Nghĩa” nổi tiếng. Đế quốc Hán mới thành lập và Lưu Bang rõ ràng không có nhiều lựa chọn. Ông ta ban đầu “phân phong một phần”, ban tước vương cho một số công thần. Khi đế quốc dần ổn định, Hán Cao Tổ giết gần hết chín vị vương khác họ, Hán Cảnh đế lại dẹp được loạn Thất vương của bảy vị vương họ Lưu.
Quyền lực địa phương quay về lại trung ương với việc Cảnh đế phái người đến mỗi đất phong để đảm nhiệm vị trí Quốc tướng. Quốc tướng chỉ chịu trách nhiệm trước trung ương, không chịu trách nhiệm trước vương gia. Nói như Fukuyama là “Một khi nhà nước trung ương lấy lại được vị thế, nó luôn có khả năng tái khẳng định quyền kiểm soát đối với các chính thể (địa phương/thân tộc)”. Một ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa nhà nước Trung Quốc với châu Âu là: Chưa từng có giai đoạn nào của Trung Quốc mà quý tộc của một vùng lãnh thổ đủ quyền lực buộc quân chủ thỏa hiệp theo hiệp ước (như trường hợp Đại Hiến chương Magna Carta ở Anh).
Tầng lớp quý tộc thế tập dĩ nhiên là không ngồi yên chịu trói. Họ thay đổi chiến lược, thay vì xây dựng cơ sở quyền lực ở địa phương thì chuyển sang tiến hành đấu tranh giành lấy quyền lực trung ương luôn. Đó chính là câu chuyện của thời Đông Hán. Thời kỳ này (và thời Tam quốc sau đó) có lẽ cũng khá quen thuộc với nhiều người.
3 – CÁCH THỨC LỰA CHỌN NGƯỜI TÀI QUYẾT ĐỊNH MỨC ĐỘ “THÂN TỘC HÓA”
Một ý quan trọng cuối cùng để kết thúc phần về Trung Quốc, ấy là sự dịch chuyển trật tự chính trị theo khung lý thuyết về xung đột “thân tộc hóa” với “nhà nước khách quan” được thể hiện qua hình thức lựa chọn người tài có sự khác nhau giữa Tây Hán và Đông Hán.
(i) Thời Tây Hán, triều đình rất thường xuyên ra lệnh cho quan chức khắp nơi tiến cử người tài trong dân gian (Fukuyama cho rằng dấu mốc đầu tiên là năm 165 TCN thời Hán Văn đế. Kỳ thực, lời kêu gọi nhân tài đầu tiên phải là năm 191 TCN thời Hán Huệ đế, sau này được “thể chế hóa” thành lời kêu gọi tiến cử “hiền lương phương chính” vào năm 178 TCN thời Hán Văn đế).
Một dấu mốc khác là việc xây dựng nhà Thái học năm 124 TCN như là trường đại học của chính quyền nhằm bồi dưỡng nhân tài, giúp cho sĩ tử hàn môn có cơ hội tham gia vào trị chính và tước dần sức ảnh hưởng của tầng lớp quý tộc thế tập. Ở đây Fukuyama viết không rõ ràng về chuyện “Những người giỏi nhất tiếp tục tham gia một khóa đào tạo khác, sau đó là khảo thí và rồi gánh vác trọng trách triều đình”. Thật ra đây là chế độ “Bác sĩ đệ tử” do Công Tôn Hoằng đề xuất, trong đó chỉ chọn lấy 50 người làm đệ tử cho các quan Bác sĩ (nghĩa là có hạn chế số lượng), “miễn trừ thuế khóa, dao dịch cho bọn họ; sắp xếp theo thứ bậc cao thấp, để bổ sung vào các chức Lang trung, Văn học, Chưởng cố” (nghĩa là cũng không phải đảm nhiệm các chức vụ đến mức gọi là “trọng trách”).
(ii) Tuy nhiên, sang đến thời Đông Hán thì giai tầng quý tộc thế tập đã thành công lũng đoạn không chỉ tư liệu sản xuất (ruộng đất) mà còn lũng đoạn cả quan trường (cơ chế tìm kiếm người tài bấy giờ phụ thuộc vào sự tiến cử lẫn nhau giữa các quý tộc vốn nắm nhiều chức vụ quan trọng ở châu – quận) mà đỉnh điểm là “Cửu phẩm trung chính chế” do Trần Quần đề xuất và được nhà Tào Ngụy áp dụng, xuyên suốt hai nhà Tây Tấn – Đông Tấn và mãi cho đến đời Tùy mới bị hủy bỏ.
Có thể nói, giai đoạn đứt quãng giữa Hán và Tùy là cách mà chủ nghĩa thân tộc khẳng định mình mới là nhân vật chính của chính trị Trung Quốc. Ngay cả hai nhà nước tập quyền tiếp sau là Tùy và Đường cũng không thể chấm dứt ảnh hưởng của các gia đình quý tộc. Phải đến giai đoạn Tống – Minh thì việc tuyển tài mới hoàn toàn được mở rộng ra phạm vi toàn xã hội, không còn bó hẹp trong nhóm tinh hoa thân tộc nữa.
“Nếu như Trung Hoa đã xây dựng nhà nước hiện đại từ rất lâu trước khi chúng xuất hiện ở châu Âu, nhà nước đó lại không đi kèm với chế độ pháp quyền. Ngược lại, Ấn Độ chưa bao giờ có được một nhà nước mạnh, nhưng ở đó lại tồn tại những mầm mống của pháp quyền, qua đó giới hạn quyền lực nhà nước” – Nhận định này sẽ được chứng minh ở phần tiếp theo, về lịch sử hình thành nhà nước ở Ấn Độ cũng như thế giới Hồi giáo.
(còn tiếp)
THAM KHẢO:
1. Nguồn gốc trật tự chính trị – Fukuyama.
2. Kể chuyện Tần Hán – Lê Đông Phương.
