Là một trong những trang sử đau thương nhứt Trung Cổ, cuộc chinh phục của người Latin đã tạm thời kết thúc thời Hoàng kim của Đế chế Byzantine (hay còn gọi là Đế chế Đông La Mã).
Sau khi bị đẩy lùi vào ngày 8 tháng 4, đội quân Thập tự chinh tái hợp và tấn công lần nữa, và lần này các cơn gió đã cho phép họ thành công ở nơi mà ban đầu họ đã thất bại, đó chính là xuôi tàu lên Vịnh Hoàng Giác (Golden Horn) và đột nhập lên các bức tường ngăn biển. Đội quân này dành được vị trí vững chắc ở quận Blachernae nằm ở phía Tây Bắc thành Constantinople, sử dụng một bức tường lửa để bảo vệ vị trí, đồng thời muốn phá hoại thành phố nhiều hơn nữa. Các tòa tháp dọc theo Tường Theodosian rơi vào tay lực lượng Thập tự chinh và Alexios V, giống như rất nhiều Hoàng đế trước, phải bỏ chạy khỏi thành. Vị tân Hoàng đế, Constantine Laskaris, lên ngôi vào ngày 12 tháng 4, cũng phải bỏ chạy khỏi Constantinople sau khi đội Vệ binh Varangian, đơn vị lính đánh thuê tinh nhuệ người Bắc Âu và Saxon rút lui vào ngày 13 tháng 4. Vào thời điểm đó có tới 3 Hoàng đế Byzantine phải lưu vong. Tới ngày 13 tháng 4, cuộc chinh phục đã hoàn tất, và cướp bóc bắt đầu.
Do tìm kiếm lợi ích từ công cuộc thập tự chinh kéo dài 2 năm, cướp phá là cách duy nhứt để người Venice và quân Thập tự chinh thu hồi vốn đầu tư. Tuy nhiên, việc cướp phá Constantinople vào năm 1204 là không thể chấp nhận được, ngay cả theo tiêu chuẩn thời đó. Constantinople, thành phố đông dân nhứt ở Châu Âu, và là trung tâm thương mại toàn cầu, một sự giàu có ngoài sức tưởng tượng đối với hầu hết những người tham gia Cuộc Thập tự chinh. Những bức tượng đồng có niên đại hàng thiên niên kỷ, chẳng hạn như bức tượng Hercules bằng đồng nổi tiếng vào thế kỷ 4 trước Công Nguyên, đã bị nấu chảy vì tính chất ngoại đạo của nó. Các nhà thờ và hội quán bị đột kích. Những con ngựa bằng đồng nổi tiếng từ Trường đua (Hippodrome) Byzantine bị người Venice đánh cắp và hiện tại vẫn còn nằm ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Mark. So với hơn 8 vạn đồng bạc mark mà Tổng trấn Doge Enrico Dandolo thành Venice yêu cầu ban đầu, ước tính người Venice đã cướp được số tài sản hơn 20 vạn đồng bạc mark trong tổng số khoảng tài sản 90 vạn đồng bạc mark bị cướp phá.
Cũng như tình trạng bạo lực từ các lực lượng Thập tự chinh, người dân ở Constantinople cũng phải chịu quả báo cho vụ thảm sát cộng đồng người Latin vào năm 1182. Hàng chục ngàn thường dân thuộc Công Giáo đã chết trong cuộc tàn sát đó. Vào thời điểm đó, vụ cướp phá này được coi là một thứ đáng xấu hổ. Đức Giáo tông Innocent III, người đã khởi xướng cuộc Thập Tự Chinh, đã lên án các chiến binh thập tự này là “nhân danh Chúa Cứu Thế nhưng hành động như kẻ vô đạo”.
Đế chế Byzantine một thời bị chia 5 xẻ 7, các văn phòng thế tục lẫn nhà thờ được chia chác qua lại trong giới quý tộc người Frank và người Venice. Từ đống tro tàn của năm 1204, một “Đế chế Latin” mới đã ra đời. Một quý tộc người Flemish, Baldwin I, trở thành “Hoàng đế Latin đầu tiên của Constantinople”, bắt đầu một triều đại kéo dài cho tới khi Đế chế Nicaea, được thành lập bởi các quý tộc Byzantine lưu vong, tái chiếm lại thành phố vào năm 1262, bắt đầu Vương triều Palaiologan kéo dài tới năm 1453 .
Vai trò của người Venice trong toàn bộ nội tình này được các sử gia xem xét kỹ lưỡng, từ việc họ khiêu khích tấn công Cảng Zara cho tới việc cướp bóc của cải ở Byzantine. Một số người cho rằng toàn bộ cuộc Thập Tự Chinh là một âm mưu của người Venice ngay từ đầu nhằm loại bỏ một đối thủ thương mại, một quan điểm đang được các sử gia tranh cãi. Quan điểm cho rằng cuộc Thập Tự Chinh thứ 4 đã làm suy yếu Đế chế Byzantine dẫn tới sự sụp đổ cuối cùng vào năm 1453 cũng bị nghi ngờ, do khung thời gian quá dài giữa 2 sự kiện lẫn việc xảy ra nhiều cuộc nội chiến trong thế kỷ 14 được cho là có vai trò tức thời hơn.
Mối rạn nứt lâu dài từ sự kiện này trong quan hệ giữa Công Giáo-Chánh Thống giáo có thể được hàn gắn bằng lời xin lỗi của Đức Giáo tông John Paul II đối với Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I vào năm 2004./.
