– Lục chức: Chánh nhị phẩm Tiệp dư, tòng nhị phẩm Dung hoa, chánh tam phẩm Tuyên vinh, tòng tam phẩm Tài nhân, chánh tứ phẩm Mỹ nhân, tòng tứ phẩm Lương nhân. Theo LTHCLC, 6 chức này là nữ quan thời Lê Sơ.
– Điền thổ 6 chức thời Lê Sơ được hưởng do Thánh Tông Thuần Hoàng Đế quy định năm 1481:
Cấp nhất: thế nghiệp thổ 18 mẫu, ruộng được vua ban cho 70 mẫu, bãi trồng dâu được ban cho 15 mẫu, ruộng tế tự 70 mẫu.
Cấp nhì: thế nghiệp thổ 14 mẫu, ruộng được vua ban cho 40 mẫu, bãi trồng dâu được ban cho 10 mẫu, ruộng tế tự 40 mẫu.
Cấp ba: thế nghiệp thổ 8 mẫu, ruộng được vua ban cho 30 mẫu, ruộng tế tự 30 mẫu.
Cấp bốn: thế nghiệp thổ 7 mẫu, ruộng được vua ban cho 25 mẫu, ruộng tế tự 25 mẫu.
Cấp năm: thế nghiệp thổ 6 mẫu, ruộng được vua ban cho 20 mẫu, ruộng tế tự 20 mẫu.
Cấp sáu: thế nghiệp thổ 5 mẫu, ruộng được vua ban cho 15 mẫu, ruộng tế tự 15 mẫu.
Về đội ngũ phục vụ hậu cung triều Lê Trung Hưng gồm: Tự Chánh (các Tự), Quán Chánh (các Quán), Thị Bình (các Thị), Độ Tự (các Độ) đều hàm tòng cửu phẩm.
Triều Lê Trung Hưng đặt lục viện nữ quan, cụ thể:
– Thượng mục viện: Tòng tứ phẩm Thượng mục. Chánh ngũ phẩm Ty ngôn phòng Ty ngôn, tòng ngũ phẩm Chưởng ngôn. Chánh ngũ phẩm Ty khí phòng Ty khí, tòng ngũ phẩm Chưởng khí. Chánh ngũ phẩm Ty quynh phòng Ty quynh, tòng ngũ phẩm Chưởng quynh.
– Thượng khách viện: Tòng tứ phẩm Thượng khách. Chánh ngũ phẩm Ty trưởng phòng Ty trưởng, tòng ngũ phẩm Chưởng trưởng. Chánh ngũ phẩm Ty y phòng Ty y, tòng ngũ phẩm Chưởng y. Chánh ngũ phẩm Ty đăng phòng Ty đăng, tòng ngũ phẩm Chưởng đăng.
– Thượng hòa viện: Tòng tứ phẩm Thượng hòa. Chánh ngũ phẩm Ty thanh phòng Ty thanh, tòng ngũ phẩm Chưởng thanh. Chánh ngũ phẩm Ty thực phòng Ty thực, tòng ngũ phẩm Chưởng thực. Chánh ngũ phẩm Ty dược phòng Ty dược, tòng ngũ phẩm Chưởng dược.
– Thượng trinh viện: Tòng tứ phẩm Thượng trinh. Chánh ngũ phẩm Ty bảo phòng Ty bảo, tòng ngũ phẩm Chưởng bảo. Chánh ngũ phẩm Ty tài phòng Ty tài, tòng ngũ phẩm Chưởng tài. Chánh ngũ phẩm Ty thư phòng Ty thư, tòng ngũ phẩm Chưởng thư.
– Thượng văn viện: Tòng tứ phẩm Thượng văn. Chánh ngũ phẩm Ty hành phòng Ty hành, tòng ngũ phẩm Chưởng hành. Chánh ngũ phẩm Ty điển phòng Ty điển, tòng ngũ phẩm Chưởng điển. Chánh ngũ phẩm Ty học phòng Ty học, tòng ngũ phẩm Chưởng học.
– Thượng đức viện: Tòng tứ phẩm Thượng đức. Chánh ngũ phẩm Ty thiết phòng Ty thiết, tòng ngũ phẩm Chưởng thiết. Chánh ngũ phẩm Ty trân phòng Ty trân, tòng ngũ phẩm Chưởng trân. Chánh ngũ phẩm Ty vô phòng Ty vô, tòng ngũ phẩm Chưởng vô.
– Đông cung: Điển nhi, Điển tẩm, Điển phục, Điển phạn đều hàm tòng cửu phẩm.
Ngân sách khâm ban cho nữ quan:
Sách Lê Triều Hội Điển & LTHCLC – Lễ Nghi Chí (Phan Huy Chú) đều biên soạn thời Nguyễn có ghi chép về lễ nhận ngân sách của nữ quan là cung tần của chúa Trịnh. Cụ thể:
“Ngày tháng đó, Nội quan đặt sẵn vị trí nhận sách của quý tần trong cung. Đặt án sách ở hướng bắc của vị trí nhận sách bạc. Một viên tuyên sách (Nội quan), một viên nhận sách (nữ quan) đều đứng 2 bên án sách chờ sẵn. Sớm hôm đó, Tư Lễ Giám đặt 1 án sách ở phía đông sân Đan trì. Đặt 1 kiệu hoa ở 2 bên trái phải sân Đan trì. Giáo phường đặt dàn nhã nhạc, ty Nghi Vệ bày nghi trượng theo nghi thức lễ sóc vọng.
Hoàng thượng ngự đến cửa Kính Thiên, bá quan đứng theo thứ tự và làm lễ 5 lạy 3 vái, xong phân ban đứng hầu. Sách sứ mặc triều phục đến bái vị. Tán lễ (dùng quan Hàn Lâm) xướng “4 bái”. Quan truyền chế (dùng quan Hàn Lâm) quỳ xuống tâu: “Truyền chế”. 4 viên chấp sự (dùng quan Tự Ban) bưng án sách đến giữa ngự đạo. Quan truyền chế (dùng quan Hồng Lô Tự) quỳ xuống tâu: “Truyền chế”. 4 viên chấp sự (dùng quan Tự Ban) bưng án sách đặt giữa ngự đạo. Quan Truyền chế hô: “Hữu chế”. Tán lễ xướng: “Quỵ”. Sách sứ quỳ xuống, quan Truyền chế tuyên đọc chế: “Ngày tháng năm, sách phong cho cung tần của chúa làm quan… Trẫm mệnh cho các khanh đến phủ làm lễ”. Xướng: “Phủ, phục, hưng, 4 bái, lễ tất”. Quan Tư lễ bưng án sách đặt vào kiệu. Tàn lọng, trống nhạc được rước vào phủ chúa làm lễ theo nghi thức”.
Theo Phan Huy Chú, việc sách phong cho nội & ngoại mệnh phụ là do vương hậu hoặc hoàng hậu thực hiện. Nay hoàng đế nhà Lê phải lên triều làm lễ thì đảo lộn cương thường, khinh mạn cổ lễ quá mức. Tuy nhiên, vào thời đó, chỉ có những dịp tế Giao, sách phong, tôn phong… thì hoàng đế mới có việc để làm.
Nguồn: Lê triều quan chế, Phan Huy Liệu dịch & chú giải, Viện sử học & NXB VH TT, 1977 / Tìm hiểu Lịch sử Việt Nam
