John D. Rockefeller: Ông vua dầu mỏ – tỷ phú giàu nhất mọi thời đại, bị cả châu Mỹ ghét 

John D. Rockefeller – người được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất. Từ một người đào khoai tây thuê với mức lương 4 xu mỗi giờ, Rockefeller đã xây dựng và thiết kế nên một đế chế, một gia tộc hùng mạnh và nắm giữ khối tài sản lên tới 3 tỷ đô-la thời bấy giờ.

John Davison Rockefeller Sr. (8 tháng 7 năm 1839 – 23 tháng 5 năm 1937) là một ông trùm kinh doanh và nhà từ thiện người Mỹ. Ông được nhiều người coi là người Mỹ giàu có nhất mọi thời đại, và người giàu nhất trong lịch sử hiện đại.

Rockefeller sinh ra trong một gia đình đông con ở ngoại ô New York, họ đã chuyển đi nhiều lần trước khi định cư ở Cleveland, Ohio. Ông trở thành trợ lý kế toán năm 16 tuổi và bắt đầu có nhiều quan hệ đối tác kinh doanh từ năm 20 tuổi, tập trung kinh doanh vào lĩnh vực lọc dầu. Rockefeller thành lập Standard Oil vào năm 1870. Ông điều hành nó cho đến năm 1897, và vẫn là cổ đông lớn nhất của công ty.

Sự giàu có của Rockefeller tăng vọt khi dầu hỏa và xăng dầu ngày càng trở nên quan trọng, và ông trở thành người giàu nhất đất nước, kiểm soát 90% tổng lượng dầu ở Hoa Kỳ vào thời kỳ đỉnh cao. Dầu mỏ đã được sử dụng trên khắp đất nước như một nguyên liệu thắp sáng cho đến khi có điện, và làm nhiên liệu sau khi phát minh ra ô tô.

Hơn nữa, Rockefeller đã có được ảnh hưởng to lớn đối với ngành đường sắt vận chuyển dầu của ông đi khắp đất nước. Standard Oil là sự tin tưởng kinh doanh lớn đầu tiên ở Hoa Kỳ.

Rockefeller đã cách mạng hóa ngành dầu khí và thông qua các đổi mới công nghệ và công ty, là công cụ giúp phổ biến rộng rãi và giảm đáng kể chi phí sản xuất dầu. Công ty và hoạt động kinh doanh của ông bị chỉ trích, đặc biệt là trong các bài viết của tác giả Ida Tarbell.

Tòa án Tối cao đã ra phán quyết vào năm 1911 rằng Standard Oil phải bị giải thể vì vi phạm đạo luật chống độc quyền của liên bang. Công ty tách ra thành 34 đơn vị riêng biệt, bao gồm các công ty đã trở thành ExxonMobil, Tập đoàn Chevron và những công ty khác — một số vẫn có mức doanh thu cao nhất trên thế giới.

Cuối cùng, hóa ra rằng các bộ phận riêng lẻ của công ty có giá trị hơn toàn bộ công ty khi nó là một thực thể – tổng các bộ phận có giá trị hơn toàn bộ – vì cổ phiếu của những bộ phận này tăng gấp đôi và gấp ba giá trị trong những năm đầu. Do đó, Rockefeller trở thành tỷ phú đầu tiên của đất nước, với khối tài sản trị giá gần 2% nền kinh tế quốc gia.

Giá trị tài sản ròng đạt đỉnh được ước tính là 418 tỷ đô la Mỹ (tính theo đô la năm 2019; đã điều chỉnh lạm phát) vào năm 1913. Tài sản cá nhân của ông ước tính khoảng 900 triệu USD vào thời điểm năm 1913, gần bằng 3% GDP của Hoa Kỳ là 39,1 tỷ USD năm đó.

Rockefeller đã dành phần lớn thời gian trong 40 năm cuối của cuộc đời để nghỉ hưu tại bất động sản của mình ở Quận Westchester, New York, xác định cấu trúc của hoạt động từ thiện hiện đại, cùng với các nhà công nghiệp chủ chốt khác như ông trùm thép Andrew Carnegie.

Tài sản của ông chủ yếu được sử dụng để tạo ra phương pháp tiếp cận có hệ thống hiện đại về hoạt động từ thiện có mục tiêu thông qua việc tạo ra các nền tảng có ảnh hưởng lớn đến y học, giáo dục và nghiên cứu khoa học. Các tổ chức của ông đã đi tiên phong trong phát triển nghiên cứu y học và là công cụ trong việc tiêu diệt gần như tận diệt giun móc và sốt vàng ở Mỹ.

Rockefeller cũng là người sáng lập Đại học Chicago và Đại học Rockefeller và đã tài trợ cho việc thành lập Đại học Trung tâm Philippine ở Philippines. Ông là một người sùng đạo Baptist phương Bắc và ủng hộ nhiều tổ chức dựa trên nhà thờ.

Ông tuân thủ hoàn toàn kiêng rượu và thuốc lá trong suốt cuộc đời của mình. Để có lời khuyên, ông tin tưởng chặt chẽ vào vợ mình, Laura Spelman Rockefeller, đã sinh cho ông năm người con.

Ông cũng là một giáo dân trung thành của Nhà thờ Baptist Street Erie, dạy trường Chúa nhật, và từng là người được ủy thác, thư ký, và thỉnh thoảng là người gác cổng. Tôn giáo là động lực hướng dẫn trong suốt cuộc đời ông và ông tin rằng đó là nguồn gốc thành công của mình.

Rockefeller cũng được coi là người ủng hộ chủ nghĩa tư bản dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Darwin xã hội, và ông thường được trích dẫn rằng, “Sự phát triển của một doanh nghiệp lớn chỉ là sự sống còn của những người phù hợp nhất”.

II. JOHN D. ROCKEFELLER – TUỔI THƠ CỦA MỘT CON NGƯỜI VỚI TÍNH CÁCH ĐẦY MÂU THUẪN

  1. ÔNG BÀ NỘI: GODFREY ROCKEFELLER & LUCY AVERY

Khoảng năm 1723, một chủ cối xay tên là Johann Peter Rockefeller đã đưa vợ cùng năm người con lên thuyền đến Philadelphia và định cư trong một trang trại ở làng Somerville, sau đó tới Amwell, New Jersey. Ông đã thành công và sở hữu nhiều đất đai tại nơi này.

Hơn một thập kỷ sau, Diell Rockefeller, người anh em họ của Johann, rời miền Tây Nam nước Đức để chuyển tới New York. Một cuộc hôn nhân đã diễn ra, đó là sự kết duyên của Christina (cháu gái của Diell) với William (cháu trai của Johann).

Trái ngọt của cuộc hôn nhân giữa William và Christina là người con trai Godfrey Rockefeller, ông nội của ông trùm dầu mỏ, đồng thời là tổ tiên trực hệ không ai ngờ đến của gia tộc.

Năm 1806, Godfrey cưới Lucy Avery tại Great Barrington, tiểu bang Massachusetts, bất chấp những nghi ngại của gia đình bà. Thật đáng buồn, Godfrey Rockefeller lại không tương xứng với người vợ tháo vát của mình. Ông có dáng vẻ nghèo hèn, toát lên nét sợ sệt của người luôn thất bại, trong khi đó Lucy lại là người tự tin, cuốn hút và có học vấn cao hơn Godfrey.

Lucy sinh được 10 người con, trong đó người con thứ ba, William Avery Rockefeller, được sinh ra tại Granger, New York vào năm 1810. Đó chính là cha của John D. Rockefeller.

Godfrey là người vui tính, tốt bụng nhưng tắc trách và nghiện rượu. Thói nghiện rượu của chồng đã khiến Lucy căm thù rượu và sau này bà luôn nhắc nhở đứa cháu trai của mình về điều đó.

Ông nội Godfrey là người đầu tiên hình thành trong tâm trí John D. một mối tương đồng giữa sự thân thiện với tính bất cẩn, khiến ông có thiên hướng ưa thích những người điềm tĩnh, kín tiếng, biết làm chủ cảm xúc hơn.

Hình mẫu của bà nội Lucy còn ảnh hưởng tới tính cách của John D. Rockefeller nhiều hơn thế. Thông qua nhiều giai thoại còn lưu lại, có thể phỏng đoán rằng Lucy là người có khả năng quản lý cả gia đình và trang trại. Bà chưa bao giờ né tránh việc nặng nhọc.

Bà có thể tự mình dựng một bức tường đá mà chỉ cần sự hỗ trợ của hai con bò.

Lucy là một người phụ nữ tháo vát và nhanh trí, và tất cả những phẩm chất ấy đều được thể hiện trọn vẹn ở cháu trai của bà là John Davison Rockefeller.

Và có một điều không thể không nhắc tới khi nói về Lucy, đó là bà vô cùng hứng thú với thảo mộc và những phương thuốc tự chế từ những “bụi cây thuốc” trong vườn nhà. Nhiều năm sau, John D. Rockefeller tò mò muốn biết liệu những phương thuốc tự chế ấy có giá trị y học thật hay không nên đã gửi chúng tới phòng thí nghiệm.

Có lẽ do chính niềm đam mê y học thừa hưởng từ Lucy, mà sau này John D. đã thành lập viện nghiên cứu y học xuất sắc thế giới.

  1. VÙNG ĐẤT VÀ NGƯỜI DÂN Ở RICHFORD, NEW YORK

Người Mỹ xưa chọn cách đổ xô di tản đến những vùng hoang dã ở phía Tây New York như một cách thức tìm kiếm cơ hội mới. Gia đình Rockefeller không phải là ngoại lệ.

Vào những năm 1820, Godfrey và Lucy quyết định tiến về vùng đất Richford, New York, một vùng đất còn thưa thớt dân cư. Khi gia đình Rockefeller đặt chân đến đây, nơi này vẫn chỉ là vùng biên giới hoang vu, và cho tới năm 1821 thì mới trở thành thị trấn. Sự khai hoá ở vùng đất này vào thời điểm đó vẫn còn rất lạc hậu.

Rừng rậm bao quanh, cùng với đó là nhiều loài thú: gấu, nai, báo đen, gà tây hoang và thỏ đuôi bông. Vào ban đêm, mọi người thường đốt đuốc để doạ những bầy sói lang thang kiếm ăn.

Năm 1839, vào thời điểm John D. Rockefeller ra đời, Richford đang dần trở thành một thị trấn nhỏ. Một số ngành công nghiệp non trẻ bắt đầu xuất hiện tại nơi đây như các nhà máy cưa, nhà máy lúa mạch, nhà máy chưng cất rượu,…, ngoài ra còn có cả trường học và nhà thờ.

Hầu hết cư dân nơi đây kiếm sống bằng hoạt động canh tác nhọc nhằn, nhưng những người mới đến lại mạnh dạn và tràn đầy hi vọng. Bất chấp những đặc điểm lối sống của vùng biên giới, họ đã mang đến đây văn hoá sống giản dị và tiết kiệm của Thanh giáo New England mà sau này ghi dấu đậm nét trong con người John D. Rockefeller.

Giữa bức tranh toàn cảnh về một thung lũng màu mỡ và vẻ đẹp đồng quê, nhà Rockefeller cố gắng vật lộn với cuộc sống khắc khổ trong một ngôi nhà nhỏ và đơn giản, sâu khoảng 7m và rộng khoảng 5m, được ghép bằng các thanh dầm và gỗ đẽo.

  1. CHA MẸ: WILLIAM AVERY ROCKEFELLER & ELIZA DAVISON VÀ NGUỒN GỐC CÁI TÊN “JOHN DAVISON ROCKEFELLER”

Không thể không nói tới người cha của John là William Avery Rockefeller. Ở tuổi 20, William Avery lựa chọn lối sống lang bạt. Suốt cả cuộc đời, ông dành phần lớn sức lực cho những mánh khoé lừa gạt và trốn tránh những công việc nặng nhọc.

Tuy nhiên, ông sở hữu vẻ quyến rũ bất cần cùng ngoại hình vạm vỡ với chiều cao gần 1m80, khuôn ngực nở, vầng trán cao và bộ râu dày màu nâu vàng, vì vậy mọi người luôn bị che mắt bởi diện mạo ấy. Ông luôn lo sợ có ai đó nhận ra và vạch trần mánh khoé lừa đảo của mình.

William Avery Rockefeller hoạt động trên phạm vi khá rộng lớn để trốn tránh pháp luật. Ông lang thang gần 50km đến Tây Bắc Richford, các vùng lân cận Niles và Moravia và rồi gặp Eliza Davison, chính là người vợ tương lai của mình.

Bà hoàn toàn bị lừa trước trò bịp bợm của William và dù có bán tín bán nghi về con người này, kể cả khi phát hiện ra sự thật, bà cũng không thể cưỡng lại được sức hút của ông.

18/02/1837, bất chấp sự phản đối của người cha vợ, đám cưới của William và Eliza đã diễn ra. Hầu hết người dân Richford không tin việc Eliza và William gặp nhau chỉ là tình cờ. Họ tin rằng đây là cái bẫy mà William giăng sẵn để giành lấy tài sản của nhà Davison.

Cuộc hôn nhân trong dối trá ấy đã hợp nhất cuộc sống của hai con người với tính cách hoàn toàn trái ngược nhau, mở đầu cho một loạt chuỗi rắc rối và bất hoà sau này. Chính điều ấy cũng góp phần nhào nặn nên những mâu thuẫn trong tính cách của John D. Rockefeller.

Cuộc hôn nhân của hai người sớm gặp phải sóng gió. Chẳng bao lâu sau đám cưới, William dập tắt hoàn toàn mọi suy nghĩ của Eliza về một đời sống vợ chồng lãng mạn.

William không những không bỏ tình nhân cũ của ông là Nancy Brown (quản gia nhà William) mà còn có con với cả tình nhân. Năm 1838, Eliza sinh đứa con đầu lòng là Lucy. Vài tháng sau, Clorinda, con gái ngoài giá thú của Nancy ra đời. Vào đêm 08/07/1839, Eliza hạ sinh một bé trai, chính là John D. Rockefeller.

Đứa trẻ này, sinh ra trong nhiệm kỳ của Tổng thống Van Buren, đã được định mệnh sắp đặt trở thành một nhà tư bản xuất sắc trong tương lai của nước Mỹ và “sống sót” qua thời kỳ Chính sách Kinh tế mới lần thứ hai của Tổng thống Franklin D. Roosevelt.

Giống như những trùm tư bản khác như Andrew Carnegie (sinh năm 1835 và là nhà tài phiệt ngành thép, góp phần làm cho ngành công nghiệp sản xuất thép của Mỹ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỉ XIX), Jay Gould (sinh năm 1836 và là nhà đầu cơ, nhà tài chính, tài phiệt ngành đường sắt) hay J. Pierpont Morgan (sinh năm 1837 và là nhà kinh doanh, tài chính, từ thiện và sưu tập nghệ thuật người Mỹ, có vai trò to lớn trong nền công nghiệp Mỹ cuối thế kỷ XIX), John D. Rockefeller chào đời vào cuối những năm 1830 và trưởng thành trong cuộc bùng nổ công nghiệp sau Nội chiến.

Khi John được vài tháng tuổi, Nancy Brown tiếp tục sinh người con gái thứ hai là Cornelia. Như vậy là chỉ trong vòng hai năm, William Avery Rockefeller có tới bốn người con.

Chính vì thế, John Davison Rockefeller (được đặt theo tên ông ngoại) kẹt giữa hai người chị em cùng cha khác mẹ được sinh ra trong tội lỗi.

  1. CUỘC SỐNG RẮC RỐI CỦA MẸ VÀ TUỔI THƠ KHỐN KHÓ CỦA CON – VÙNG ĐẤT KEO KIỆT

Eliza không thể thoải mái với hai đứa con ngoài giá thú của chồng, nhưng vốn là một người phụ nữ nông thôn xa nhà, bà đã khoan dung với Nancy Brown đến không ngờ.

Trái với những gì mọi người tưởng tượng, Eliza thương xót Nancy. Có lẽ bà xem tình cảnh mà bà đang phải chịu đựng (một chồng hai vợ) là hình phạt mà bà xứng đáng phải nhận vì đã không lắng nghe lời can ngăn của cha.

Tuy nhiên Nancy không phải là rắc rối duy nhất của Eliza. Vấn đề đau đầu hơn nằm ở chính người chồng của bà: William Avery Rockefeller.

Ông thường xuyên bỏ mặc bà ủ rũ suốt ba năm trời ở Richford để chạy theo chủ nghĩa cá nhân đầy thách thức và vượt ra khỏi khuôn phép xã hội. Ông thường bỏ đi buôn bán xa nhà với những chuyến đi đầy bí ẩn.

Dù cho vẫn chu cấp đầy đủ cho gia đình trong những ngày đi xa, việc vắng nhà triền miên cùng những lần phản bội liên tục tái diễn đã thiêu rụi sự lãng mạn trong tâm trí của Eliza. Tất cả chỉ còn lại là sự cam chịu và nhẫn nhục.

Dù cho mọi hoá đơn vẫn được William thanh toán đầy đủ, nhiều người chứng kiến đã thuật lại về cuộc sống khốn khó của gia đình cậu bé John D. Rockefeller tại miền đất Richford. Họ kể rằng chưa bao giờ từng nhìn thấy những đứa trẻ nào đáng thương hơn thế. Quần áo của chúng cũ rách, trông chúng dơ dáy và đói khát.

Nhưng may thay, trong tình thế ác mộng, người mẹ Eliza dường như trở nên mạnh mẽ hơn thay vì gục ngã. Người dân Richford khen bà là một người phụ nữ tuyệt vời. Dù cho người chồng luôn vắng nhà vài tháng, cô vẫn trông coi được cả trang trại rộng 60 mẫu và luôn cố tìm cách chi trả các khoản chi phí.

Tất cả đều ảnh hưởng đến suy nghĩ của John D. Rockefeller. Những ký ức đầu tiên của ông luôn gắn liền với sự cẩn trọng. Ông bỏ qua người cha luôn vắng nhà cùng người ông nghiện rượu mà chỉ nhớ đến mẹ Eliza và bà nội Lucy – hai người phụ nữ nhẫn nại và mạnh mẽ trong cuộc đời của ông.

Dường như ông có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi những ký ức không vui, giữ kín và biến chúng thành động lực củng cố lòng quyết tâm.

Có thể nói John D. Rockefeller không biết gì về Nancy Brown (bà bị William Avery Rockefeller đuổi khỏi nhà) cũng như những góc khuất tối tăm trong cuộc sống ở Richford, tuy nhiên ông vẫn mơ hồ về việc phải trải qua cuộc sống nơi kinh khủng ấy. Khi nói về quyết định rời Richford của gia đình, John gói gọn cả vùng đất tuổi thơ này trong vài từ: “Vùng đất keo kiệt”.

Nơi đó rất đẹp. Nhưng người dân lại lãng phí công sức để đào những gốc cây lên và cố gắng trồng trọt trên mảnh đất khô cằn.

III. SỰ NGHIỆP CỦA JOHN D. ROCKEFELLER

  1. NHỮNG NĂM ĐẦU KINH DOANH

Không mất nhiều thời gian để John D. Rockefeller nổi tiếng là một doanh nhân sắc sảo: chăm chỉ, kỹ lưỡng, chính xác, điềm đạm và không chấp nhận rủi ro. Tỉ mỉ đến từng chi tiết, đặc biệt là vấn đề tài chính (thậm chí anh ấy còn giữ sổ cái chi tiết các khoản chi tiêu cá nhân của mình từ năm 16 tuổi), Rockefeller đã có thể tiết kiệm 1.000 đô la trong 4 năm từ công việc kế toán của mình.

Năm 1859, Rockefeller thêm số tiền này vào khoản vay 1.000 đô la từ cha mình để đầu tư vào quan hệ đối tác thương mại hoa hồng của riêng mình với Maurice B. Clark, một cựu bạn học của Đại học Folsom Mercantile.

Bốn năm sau, Rockefeller và Clark mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh lọc dầu đang bùng nổ trong khu vực với một đối tác mới, nhà hóa học Samuel Andrews, người đã xây dựng một nhà máy lọc dầu nhưng biết rất ít về kinh doanh và vận chuyển hàng hóa.

Tuy nhiên, đến năm 1865, các đối tác, con số 5 trong đó có hai anh em của Maurice Clark, bất đồng về cách quản lý và chỉ đạo kinh doanh của họ, vì vậy họ đồng ý bán doanh nghiệp cho người trả giá cao nhất trong số họ. Rockefeller, 25 tuổi, đã giành được nó với giá thầu 72.500 đô la và cùng với Andrews là đối tác, thành lập Rockefeller & Andrews.

Nói một cách ngắn gọn, Rockefeller đã nghiên cứu ngành kinh doanh dầu non trẻ một cách nghiêm túc và trở nên hiểu biết về các giao dịch của nó. Công ty của Rockefeller khởi đầu nhỏ nhưng nhanh chóng hợp nhất với OH Payne, một chủ nhà máy lọc dầu lớn ở Cleveland, và sau đó là với những người khác.

Với sự phát triển của công ty, Rockefeller đã đưa anh trai của mình (William) và anh trai của Andrews (John) vào công ty.

Vào năm 1866, Rockefeller ghi nhận rằng 70% dầu tinh luyện được vận chuyển ra thị trường nước ngoài. Rockefeller đã thành lập một văn phòng ở thành phố New York để cắt giảm người trung gian, một phương pháp mà ông sẽ áp dụng nhiều lần để cắt giảm chi phí và tăng lợi nhuận.

Một năm sau, Henry M. Flagler gia nhập nhóm và công ty được đổi tên thành Rockefeller, Andrews, & Flagler. Khi công việc kinh doanh tiếp tục thành công, công ty được thành lập với tên gọi Công ty Dầu tiêu chuẩn vào ngày 10 tháng 1 năm 1870, với John D. Rockefeller là chủ tịch.

  1. ĐỘC QUYỀN DẦU TIÊU CHUẨN

John D. Rockefeller và các đối tác của ông trong Standard Oil Company là những người giàu có, nhưng họ đã nỗ lực để đạt được thành công lớn hơn.

Năm 1871, Standard Oil, một số nhà máy lọc dầu lớn khác và các tuyến đường sắt lớn đã bí mật liên kết với nhau thành một công ty mẹ có tên là Công ty Cải tiến Miền Nam (SIC).

SIC đã giảm giá vận chuyển (“chiết khấu”) cho các nhà máy lọc dầu lớn thuộc liên minh của họ nhưng sau đó tính thêm tiền cho các nhà máy lọc dầu độc lập, nhỏ hơn (“hạn chế”) để vận chuyển hàng hóa của họ dọc theo đường sắt. Đây là một nỗ lực trắng trợn nhằm phá hủy kinh tế những nhà máy lọc dầu nhỏ hơn đó và nó đã thành công.

Cuối cùng, nhiều doanh nghiệp không chịu nổi những cách làm quá khích này; Rockefeller sau đó đã mua lại những đối thủ cạnh tranh đó. Kết quả là Standard Oil đã có được 20 công ty Cleveland trong một tháng vào năm 1872.

Sự kiện này được gọi là “Vụ thảm sát Cleveland”, chấm dứt hoạt động kinh doanh dầu cạnh tranh trong thành phố và đòi lại 25% dầu của đất nước cho Standard Oil Company.

Nó cũng tạo ra phản ứng khinh miệt của công chúng, với việc các phương tiện truyền thông gọi tổ chức là “một con bạch tuộc”. Vào tháng 4 năm 1872, SIC đã bị giải tán theo cơ quan lập pháp Pennsylvania nhưng Standard Oil đã trên đường trở thành một công ty độc quyền.

Một năm sau, Rockefeller mở rộng sang New York và Pennsylvania với các nhà máy lọc dầu, cuối cùng kiểm soát gần một nửa hoạt động kinh doanh dầu ở Pittsburgh.

Công ty tiếp tục phát triển và tiêu thụ các nhà máy lọc dầu độc lập đến mức Công ty Standard Oil chỉ huy 90% sản lượng dầu của Mỹ vào năm 1879. Vào tháng 1 năm 1882, Standard Oil Trust được thành lập với 40 tập đoàn riêng biệt dưới sự bảo trợ của nó.

Để tăng lợi nhuận tài chính từ việc kinh doanh, Rockefeller đã loại bỏ những người trung gian như đại lý thu mua và người bán buôn. Ông bắt đầu sản xuất các thùng và lon cần thiết để chứa dầu của công ty. Rockefeller cũng phát triển các nhà máy sản xuất các sản phẩm phụ từ dầu mỏ như dầu hỏa, chất bôi trơn máy móc, chất tẩy rửa hóa học và sáp parafin.

Cuối cùng, cánh tay của Standard Oil Trust đã loại bỏ hoàn toàn nhu cầu thuê ngoài, điều này đã tàn phá các ngành công nghiệp hiện có trong quá trình này.

  1. TAI ƯƠNG VỀ PHƯƠNG TIỆN VÀ PHÁP LÝ

Tên tuổi của John D. Rockefeller lần đầu tiên gắn liền với những hoạt động kinh doanh tàn nhẫn với Vụ thảm sát Cleveland, nhưng sau khi Ida Tarbell giới thiệu 19 phần nối tiếp với tiêu đề “Lịch sử của Công ty Dầu mỏ Standard”, bắt đầu xuất hiện trên Tạp chí McClure vào tháng 11 năm 1902, danh tiếng của ông đã được công khai được xưng tụng là một trong những kẻ tham lam và tham nhũng.

Câu chuyện khéo léo của Tarbell đã phơi bày tất cả các yếu tố về nỗ lực của gã khổng lồ dầu mỏ nhằm ngăn cản sự cạnh tranh và sự thống trị quá mức của Standard Oil trong ngành.

Các phần sau đó được xuất bản thành cuốn sách cùng tên và nhanh chóng trở thành sách bán chạy. Với sự chú ý này về hoạt động kinh doanh của mình, Standard Oil Trust đã bị tấn công bởi các tòa án liên bang và tiểu bang cũng như giới truyền thông.

Năm 1890, Đạo luật chống độc quyền Sherman được thông qua như là đạo luật chống độc quyền đầu tiên của liên bang để hạn chế độc quyền . Mười sáu năm sau, bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ trong chính quyền của Tổng thống Teddy Roosevelt đã đệ trình hai chục hành động chống độc quyền chống lại các tập đoàn lớn; đứng đầu trong số đó là Standard Oil.

Phải mất 5 năm, nhưng vào năm 1911, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã giữ nguyên quyết định của tòa án cấp dưới yêu cầu Standard Oil Trust thoái vốn thành 33 công ty, các công ty này sẽ hoạt động độc lập với nhau.

Tuy nhiên, Rockefeller đã không bị như vậy. Bởi vì ông là một cổ đông lớn, giá trị ròng của ông đã tăng theo cấp số nhân với việc giải thể và thành lập các đơn vị kinh doanh mới.

  1. ROCKEFELLER TRONG VAI NHÀ TỪ THIỆN

John D. Rockefeller là một trong những người đàn ông giàu nhất thế giới trong suốt cuộc đời của mình. Mặc dù là một nhà tài phiệt, nhưng anh ta sống khiêm tốn và giữ một địa vị xã hội thấp, hiếm khi tham dự nhà hát hoặc các sự kiện khác mà các đồng nghiệp của anh ta thường tham dự.

Từ khi còn nhỏ, anh đã được đào tạo để quyên góp cho nhà thờ và tổ chức từ thiện và Rockefeller đã thường xuyên làm như vậy. Tuy nhiên, với khối tài sản được cho là trị giá hơn một tỷ USD sau khi Standard Oil giải thể và hình ảnh công chúng bị hoen ố cần chấn chỉnh, John D. Rockefeller bắt đầu cho đi hàng triệu USD.

Năm 1896, Rockefeller, 57 tuổi, chuyển giao quyền lãnh đạo hàng ngày của Standard Oil, mặc dù ông giữ chức chủ tịch cho đến năm 1911 và bắt đầu tập trung vào hoạt động từ thiện.

Ông đã đóng góp vào việc thành lập Đại học Chicago vào năm 1890, mang lại 35 triệu đô la trong suốt 20 năm. Trong khi làm như vậy, Rockefeller đã tin tưởng vào Linh mục Frederick T. Gates, giám đốc của Hiệp hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ, nơi đã thành lập trường đại học.

Với Gates là giám đốc đầu tư và cố vấn từ thiện của mình, John D. Rockefeller đã thành lập Viện Nghiên cứu Y khoa Rockefeller (nay là Đại học Rockefeller) ở New York vào năm 1901.

Trong phòng thí nghiệm của họ, người ta đã phát hiện ra các nguyên nhân, cách chữa trị và các cách phòng chống bệnh tật khác nhau, bao gồm cả cách chữa bệnh viêm màng não và xác định DNA là vấn đề di truyền trung tâm.

Một năm sau, Rockefeller thành lập Ban Giáo dục Tổng quát. Trong 63 năm hoạt động, nó đã phân phối 325 triệu đô la cho các trường học và cao đẳng ở Mỹ.

Năm 1909, Rockefeller phát động một chương trình y tế công cộng nhằm ngăn ngừa và chữa trị giun móc, một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở các bang phía nam, thông qua Ủy ban Vệ sinh Rockefeller.

Năm 1913, Rockefeller thành lập Quỹ Rockefeller , với con trai John Jr là chủ tịch và Gates là người được ủy thác, để thúc đẩy hạnh phúc của nam giới và phụ nữ trên khắp thế giới.

Trong năm đầu tiên, Rockefeller đã quyên góp 100 triệu đô la cho quỹ, tổ chức này đã hỗ trợ nghiên cứu và giáo dục y tế, các sáng kiến ​​sức khỏe cộng đồng, tiến bộ khoa học, nghiên cứu xã hội, nghệ thuật và các lĩnh vực khác trên thế giới.

Một thập kỷ sau, Quỹ Rockefeller là tổ chức tài trợ lớn nhất trên thế giới và người sáng lập của nó được coi là nhà từ thiện hào phóng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Ảnh: tranh biếm họa mô tả Rockefeller và Standard Oil trong thế độc quyền tại thị trường dầu mỏ ở Mỹ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *