Beethoven – Khi một gã khiếm thính trở nên điên loạn

Năm 1802, chàng trai Ludwig van Beethoven 29 tuổi khi ấy vẫn đang sống xa nơi phố thị phốn hoa, trong một căn nhà thanh bình yên ả gần Viên. Cảnh vật xung quanh tĩnh lặng và đẹp đẽ, nhưng Beethoven không hề ổn. Thính giác của ông đã chuyển biến ngày một xấu trong ba năm vừa qua.

Bắt đầu từ một tiếng chuông vang lên trong tai ông, tiếng chuông ấy không mất dần, nó chỉ càng ngày càng lớn hơn. Beethoven gần như đã điếc hoàn toàn vào năm 1802.

Số phận thật tàn nhẫn. Ludwig là một nhạc sĩ, một nhà soạn nhạc. Với ông, âm nhạc là cả cuộc sống, đôi tai là kế sinh nhai.

Ý định tự tử dần xuất hiện. Đến ngày mồng 6 tháng 10 năm 1802, ông viết một lá thư tuyệt mệnh cho những đứa em của mình.

“Hỡi những người nghĩ hay nói rằng anh ác ý, bướng bỉnh và thù ghét xã hội, những người ấy đã bất nghĩa nhường nào, em không biết lý do khôn cùng cho những gì mà anh thể hiện đâu…Anh bị buộc sớm phải cô lập chính mình, sống trong cô đơn hiu quạnh, thỉnh thoảng khi mà anh cố quên tất cả những điều ấy đi, cay đắng nghiệt ngã làm sao khi anh phải lùi bước bởi nỗi buồn như nhân đôi về đôi tai bị khiếm thị, nhưng anh vẫn chẳng thể nào nói lớn, thật lớn cho mọi người biết, rằng anh bị điếc…Cuộc sống của anh cứ như sự đày ải. Nếu anh đến gần mọi người hơn, một nỗi kinh hoàng khủng khiếp sẽ chiếm lấy anh, nỗi sợ khi phải đối diện với nguy hiểm khi tình trạng của anh bị biết được.”

Ông đã ở bên bờ vực của cái chết. Nhưng nếu như số phận đã định, Beethoven quyết sẽ chống lại nó. Ông tiếp tục sống cho đến 25 năm sau, cho đến khi qua đời ở Viên vào năm 1827, đã có mười ngàn người tham dự đám tang này.

“Tôi gần như đã đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình – chỉ có nghệ thuật là thứ đã níu giữ tôi, chẳng thể nào rời xa trần thế cho đến khi tôi có thể sáng tác được hết những gì gợi cho tôi nguồn cảm hứng, và vì vậy tôi chịu đựng cuộc sống khốn khổ này, thực sự khốn khổ, một cơ thể dễ bị kích động đến nỗi chỉ một sự thay đổi bất chợt cũng có thể ném tôi từ trạng thái tốt nhất về với nỗi tồi tệ thường trực.”

Tưởng niệm Beethoven

“Chúng tôi yêu nhạc của ông ấy, chúng tôi cần nó. Dẫu có tuyệt vọng đến thế nào, ta chẳng thể nghe bản giao hưởng số 9 của Beethoven mà không thấy nổi bật lên là sự thay đổi, sự phong phú và khích lệ. Và với một người đàn ông đã ban tặng cho cả thế giới một món quà như vậy, không có một niềm vinh dự nào tuyệt vời hơn, chẳng có lễ kỷ niệm nào đủ thành kính. Tự bản thân nó dường như đã là ngày kỷ niệm sinh thành của cả nền âm nhạc.” – Leonardo Bernstein

Chúng tôi viết vào năm 2020, khi mà thế giới đang kỷ niệm sinh nhật thứ 250 của Beethoven. (Chính phủ Đức thậm chí còn lập riêng ra một tổ chức để lo cho việc này).

Beethoven là nhà soạn nhạc cổ điển với những bản nhạc được chơi nhiều nhất mọi thời đại. Ảnh hưởng của ông là mãi mãi. Ông mê hoặc, cuốn hút mọi người bằng sức mạnh và vẻ đẹp trong âm nhạc của mình, cùng với những câu chuyện về cá tính riêng của chính bản thân kể từ ngày mà ông sống.

Beethoven là một biểu tượng cho phong cách dân gian hiện đại, hơn bất cứ nhà soạn nhạc nào khác trong thời kỳ âm nhạc cổ điển. Ông cùng với van Gogh đã đại diện cho nguyên mẫu của những người nghệ sĩ đang vật lộn bên bờ vực sâu thẳm của sự điên loạn. Những dòng trích ở trên từ lá thư được viết năm 1802 đã tiết lộ nhiều về mặt này.

Nhưng cũng như nhiều nghệ sĩ vĩ đại khác, có nhiều tầng trong công việc và tính cách của ông, và cũng có thật nhiều thứ đề khám phá về Beethoven hơn là hình ảnh về một thiên tài quả cảm nhưng bị xé nát bởi định mệnh tàn nhẫn.

Âm nhạc.

“Tôi đã sống với nó, tôi đã nghiên cứu nó, tôi đã luyện tập rồi lại luyện tập rất nhiều lần. Tôi có thể nói chắc nịch rằng mình chẳng hề mệt mỏi, chán nản với nó trong bất kỳ giây phút nào. Âm nhạc luôn là một nguồn thỏa mãn bất tận, đáng chú ý và chạm tới trái tim. Nó không chỉ có một sức bền bỉ khôn cùng, mà có lẽ âm nhạc là thứ gần với cái chung nhất”. – Leonard Bernstein

Không có gì là dễ dàng khi bắt đầu với nhạc của Beethoven.

Những bản nhạc như For Elise, chương thứ nhất của bản Sonate Ánh trăng, bản giao hưởng số 9 với bản hợp xướng “Freude Schöner Götterfunken” (quốc ca của liên minh châu Âu) và bốn âm mở đầu của bản giao hưởng số năm đã cực kỳ nổi tiếng, chúng hoàn toàn xứng đáng được như vậy. Như Bernstein đã nói, những bản nhạc hợp với tất cả mọi người, từ già đến trẻ, không phân biệt là chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Chúng đã tồn tại 200 năm, và sẽ tiếp tục tồn tại mãi như vậy đến tận cùng.

Đi theo chiều dài của những bản giao hưởng, ta phải ngả mũ kính phục với cách mà Beethoven chuyển linh hoạt, từ hình thức ràng buộc trong khuôn khổ với bản giao hưởng số một và số hai, cho đến một cuộc cách mạng trong hình thức của bản giao hưởng số ba, “Eroica” (được sáng tác khoảng từ năm 1802-1803, ngay sau việc buông bỏ ý nghĩ tự sát), đến bản giao hưởng số 5, “Pastorale” và bản giao hưởng số 7, số 9.

Và theo sau là 32 bản sonate viết cho piano, mười giờ đồng hồ với thứ âm nhạc tinh túy nhất sẽ cho bất cứ ai một cơ hội để học hỏi suốt đời. Có những bản sonate viết cho violin, tứ tấu đàn dây, Fidelio, concerto cho violin, năm bản concerto cho piano, v.v. Danh sách này vẫn còn tiếp tục với rất rất nhiều những tuyệt tác nữa được tìm thấy trong kho tàng đồ sộ của Beethoven.

Kể từ ngày đầu tiên, luôn có gì đó độc đáo, không thể trộn lẫn và mang tính cách mạng trong các tác phẩm của Beethoven. Tuy nhiên, tôi nghĩ có một giai đoạn mà Beethoven đã chạm đến đỉnh cao, thậm chí với tiêu chuẩn cao mà những tác phẩm nhạc cổ điển trước đó đã đặt ra. Giai đoạn này có lẽ khó để tiếp cận và tới gần hơn so với những giai đoạn khác, cũng không được công chúng biết đến rộng rãi.

Giai đoạn trễ.

Các tác phẩm của Beethoven thường được chia thành ba giai đoạn bởi các học giả: giai đoạn sớm, giai đoạn giữa và giai đoạn trễ.

Với tôi và nhiều người, giai đoạn trễ (1815-1827) là thời điểm mà Beethoven tạo ra những kiệt tác khó tin, với đầy tham vọng, hướng tới tương lai và hoàn toàn chạm đến đỉnh cao. Đáng ngạc nhiên là vào năm 1818, ông gần như đã mất hoàn toàn thính giác.

Ông không sáng tác nhiều như ông đã từng. Beethoven nằm liệt giường và rất ốm, còn phải vật lộn trong cuộc tranh đấu giành quyền nuôi đứa cháu trai kéo dài trong vài năm, tốn của ông nhiều tiền của và sức khỏe. Nhưng kể cả với mớ hỗn độn ấy, Beethoven vẫn tìm được một khoảng không trong tâm hồn mình, một nguồn cảm hứng bất tận bên trong mang đến những bản nhạc vĩ đại nhất từng được sáng tác.

Tuy nhiên, những tác phẩm vào giai đoạn trễ lại ít được bàn đến, và hiếm khi được biễu diễn. Lý do cho điều đó có lẽ là do Beethoven đã thể hiện trong âm nhạc trạng thái tâm thần của mình, bắt đầu từ bản giao hưởng số 7. “Grosse Fuge”. Đó có lẽ là tác phẩm tiên phong nhất trong thế kỷ 19, đã bị từ chối xuất bản như một phần của Op.127, và Beethoven đã buộc phải sáng tác một phần khác để thay thế. Bản sonata “Hammerklavier” được coi là sẽ chẳng bao giờ được công diễn cho đến tận khi Liszt mang nó ra mắt.

Nhiều người nghĩ gã điếc đó đã điên rồi. Mọi người không thể kết nối với nhạc của Beethoven, thứ nhạc mà những người có thể nghe vẫn luôn muốn nghe. Nhạc của Beethoven thật khó để chạm đến vào 200 năm trước, và đến tận ngày nay cũng vậy.

Nhưng luôn có nhiều lý do hơn để chạm đến: bởi vì những bản nhạc ấy thực sự rất đáng.

Dưới đây là một vài tác phẩm yêu thích của tôi ở giai đoạn trễ của Beethoven.

Tứ tấu đàn dây số 14 viết ở giọng Đô thăng thứ, op.131.

“Sau tác phẩm này, còn lại gì cho chúng ta để viết nữa?” – Franz Schubert

“…một sự vĩ đại […] mà không một từ ngữ nào có thể diễn tả được. Dường như tôi đang đứng ở ranh giới tận cùng của tất cả những thành tựu nghệ thuật và trí tưởng tượng mà con người đạt được cho đến ngày nay.”- Robert Schumann

“Nỗi buồn sầu bi nhất từng được cất tiếng trong âm nhạc”- Richard Wagner

Năm bản tứ tấu trong giai đoạn trễ cùng với Grosse Fugeđược nhiều nhà phê bình âm nhạc coi là những kiệt tác hoàn thiện nhất của Beethoven. Bản từ tấu đàn dây số 14 cũng đã nổi bật trong một loạt những tác phẩm lừng lẫy nhất của Beethoven, và bản thân ông cũng nghĩ rằng nếu không phải là bản nhạc tuyệt vời nhất, thì bản tứ tấu đàn dây số 14 cũng phải là một trong số đó. (Mặc dù thi thoảng ông cũng hay nghĩ về Missa Solemnis).

Op.131 bản thân nó đã hoàn toàn nổi bật theo đúng nghĩa.

Phạm vi ý nghĩa là rất lớn. Bản tứ tấu đã gửi đến người nghe một hành trình xuyên qua mọi khía cạnh trong cuộc sống, từ những chiêm nghiệm sâu sắc nhất, đến cả những niềm vui ngây ngất nhất. Mà Bruce Adolpje đã miêu tả rằng bản nhạc như đưa ta từ một lời nguyện ở nhà thờ đến những điệu nhảy trên quảng trường của một thị trấn, đến cả aria trên một sân khấu opera hay bài giảng trên giảng đường đại học hay một sân chơi đầy hứng khởi, chỉ để kết thúc trong một cao trào kịch tính với cấu trúc của những bản sonata cũ, như đưa ta trở về với phòng hòa nhạc trước khi quay lại với cuộc sống thường nhật.

Cũng như nhiều tác phẩm đến vào thời kỳ trễ của Beethoven, toàn bộ bản tứ tấu đàn dây đã có những bước tiến tuyệt vời cả về cấu trúc lẫn độ hài tòa, đến mức đã trung hòa mọi quy tắc được đặt ra với tứ tấu đàn dây trong thời kỳ nhạc cổ điển.

Những bản nhạc ấy đổi mới và táo bạo, không phải vì tự thân nó muốn vậy. Những bản nhạc không kỳ quái, cũng chẳng hề cố tình kỳ quái, mà chỉ bởi nó phản ánh cuộc sống, mà cuộc sống thì luôn đầy những khó hiểu, vui vẻ và bất thường.

Và với tôi, đây mới chính là dấu ấn thứ thiệt của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven, mà không đâu ngoài giai đoạn trễ, ông thể hiện mình đầy đủ và chân thật nhất.

Sonate viết cho Piano, số 32, op.111

“Đây là những thứ cơ bản của một chương: một bản nhạc đơn giản, không nhiều hứa hẹn, phát triển qua một cách đơn giản, không nhiều hứa hẹn, và cuối cùng tạo ra một thứ gì đó tuyệt phẩm, đủ lớn để trông thật tùy hứng, không khoa trương, cũng không bị ràng buộc bởi bất cứ suy nghĩ hay ý chí nào của con người.”- Ashish Xiangyi Kumar

“Có lẽ chẳng nơi nào trong kho tàng đồ sộ những tác phẩm viết cho piano mà những trải nghiệm huyền bí lại gần gũi ngay tức khắc như thế”.- Alfred Brendel.

Op.131 viết cho tứ tấu đàn dây, op.111 cho sonata piano.

Bản sonata xuất sắc vì nhiều lý do khác ngoài điệu Boogie Woogie trong chương hai. Đã có những người chẳng kém Thomas Mann viết về bản nhạc này rồi, vậy nên tôi sẽ cố nói ngắn gọn thôi. Chỉ cần nói rằng đây được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất từng được viết cho piano.

Bản nhạc được chia làm hai chương, và thực ra nó cũng không quá điển hình cho một bản sonata. Những chương này có một sự tương phản rõ rệt: chương đầu nhuốm chất kịch, đặc biệt điêu luyện, tăm tối, trần tục và viết ở giọng thứ. Chỉ cần nghe những hợp âm đầu tiên thôi, bạn cũng có thể đoán ra điều gì đang xảy đến.

Chương thứ hai lại khác. Nó đơn giản, viết ở giọng thứ, tương phản hoàn toàn so với chương một. Có một chút biến tấu trong bản nhạc. Mà những khúc biến tấu này tuân theo ý tưởng về một nhịp điệu đơn giản.

Bản sonata nghe thì có vẻ không phức tạp, nhưng thực ra là không. Với phạm vi biểu hiện âm nhạc, bản sonata thực sự là không tưởng.

Bản nhạc nghe như lời tiễn biệt, sự xuất chúng, những trải nghiệm huyền bí mà không thể diễn tả bằng lời. Như Wittgenstein đã từng nói, những điều bí ẩn cần được đào sâu hơn, vì vậy điều quan trọng nhất là hãy để âm nhạc cất lên lời ca của chính mình.

Cuộc tranh đấu cuối cùng của loài người mang tính siêu hình, và tôi nghĩ không một nghệ sĩ nào ngoài Beethoven có thể trực tiếp nắm bắt được nó.

Khúc biến tấu Diabelli.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chúng ta sẽ bàn đến khúc biến tấu Diabelli.

Nhà soạn nhạc người Úc Diabelli đã gửi một bản nhạc đến tất cả những nhà soạn nhà ở Viên, muốn họ soạn những khúc biến tấu khác nhau, phản ánh tinh thần âm nhạc của người Úc ở thời điểm đó.

Khi Beethoven nhận được bản nhạc, ông đã nghĩ chúng thật tầm thường và thẳng thắn từ chối viết một khúc biến tấu cho nó. Nhưng Beethoven đã nghĩ lại rồi lại viết. Ý nghĩa này khá mỉa mai. Ở vài khúc biến tấu, Beethoven thậm chí đã đùa cợ về những thiếu sót của bản nhạc. Theo một cách nào đó, ông đã thể hiện được kỹ năng của mình, cách mà ông tìm cách làm mới một bản nhạc nhạt nhẽo là không gì có thể sánh được.

Bi thương không phải là tất cả trong nhạc của Beethoven. Hõm hỉnh là một phần quan trọng trong những sáng tác của ông từ những ngày đầu (mà như Martha Argerich nói về sự hóm hỉnh mà bà tìm thấy khi nghe bản phối của Gulda về những bản concerto viết cho piano thời đầu của Beethoven). Hoặc nghĩ về rage over a lost penny, bản nhạc mà ông đã viết những ngày cuối đời.

Không gì có thể giết chết được khúc biến tấu Diabelli, và Diabelli đã chính tay viết “Chúng tôi ở đây để nói với thể giới, khúc biến tấu không hề tầm thường, mà là một kiệt tác vĩ đại và quan trọng xứng ngang tầm với những tượng đài bất hủ của dòng nhạc cổ điển – một tác phẩm như vậy chỉ có thể là của Beethoven, đại diện đang sống vĩ đại nhất của nghệ thuật đích thực – chỉ Beethoven, ngoài ra không một ai có thể sáng tác những tác phẩm tương tự.

Khúc biến tấu Diabelli là một đại diện thu nhỏ cho những tác phẩm của Beethoven, cho sức sáng tạo không ngừng, khả năng làm chủ tuyệt đối đàn dương cầm và âm nhạc của ông.

Tưởng nhớ Beethoven.

Bên cạnh hai bản nhạc này, giai đoạn trễ vẫn còn nhiều những kiệt tác đáng nể khác, những bản tứ tấu đàn dây và bản sonata viết cho piano, Missa Solemnis, và dĩ nhiên là bản giao hưởng số 9. Cũng không thể lờ đi những tác phẩm trong giai đoạn sớm của Beethoven. Chúng quá xứng đáng được tán dương và ca tụng.

Tôi hy vọng mình đã đưa bạn những định hướng để khám phá về Beethoven (cũng như dòng nhạc cổ điển nói chung).

Hãy để chúng ta tưởng nhớ, vì không một sự tán dương nào đủ hân hoan. Hãy để chúng tôi kỷ niệm ngày sinh của nền âm nhạc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *