ÁC GIẢ ÁC BÁO: BẠCH TIÊN TRẢ THÙ MỐI HẬN NĂM XƯA

Bạn đã từng nghe về “Xuất Mã Tiên” bao giờ chưa?

Những độc giả ưa thích thể loại truyện ly kỳ có lẽ đều đã biết, một số loài động vật khi tu luyện đến một đạo hạnh nhất định, sẽ phải vượt qua một cửa ải, cửa ải này vô cùng khó nhằn, chỉ cần mắc phải một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến tai hoạ khôn lường, thậm chí còn phải đối mặt với nguy cơ tan thành tro bụi. Tuy nhiên, nếu muốn vượt qua an toàn, cũng không phải là không có cách, cửa ải nào cũng có “đường tắt”, và ở trường hợp này, chính là “xuất mã”.

Ông trời có mắt, ác giả ác báo, thiện giả thiện lai, vậy nên phải thuận theo ý trời, làm nhiều điều thiện.

Mà “xuất mã” ở đây dùng để chỉ một số vị tiên tu luyện đến một đạo hạnh nhất định (đặc biệt thường chỉ những loại động vật tu luyện thành tinh như hồ ly, chồn vàng, mãng xà,…), nhập vào cơ thể con người, chữa bệnh, xua đuổi tà ma và đem lại điềm lành cho dân chúng.

Bởi những vị tiên này hướng thiện và làm điều tốt cho dân gian, nên sẽ được hưởng phúc báo, sau này, khi gặp phải cửa ải gian truân, sẽ dễ dàng vượt qua hơn.

Còn những người bị chiếm hữu cơ thể, được gọi là “đệ tử xuất mã”. Vì được tiên hộ thân, giúp mọi người chữa khỏi bệnh tật, đồng thời kiếm được tiền của để nuôi dưỡng gia đình, nên đệ tử xuất mã có bản lĩnh lớn, thường được người đời kính trọng.

Đệ tử xuất mã thông hiểu âm dương ngũ hành, hiểu biết hơn người, nên thường rất kính nể đất trời, tính tình hiền lành, tốt bụng, chăm làm việc thiện, tích góp công đức. Nhưng cũng có một số người ỷ vào sự che chở, bảo vệ của thần tiên mà làm xằng làm bậy, hống hách lộng hành, thậm chí còn mang tai họa đến cho người khác, loại người này thường sẽ gặp phải quả báo, đến chết cũng không được yên ổn.

Câu chuyện ngày hôm nay kể về một người đệ tử xuất mã mang cái tâm xấu xa như vậy. Bởi đụng phải một thứ không nên đụng, gây ra chuyện ác tày trời, dẫn đến kết cục vô cùng bi thảm.

Câu chuyện này, phải kể từ một người bạn thuở nhỏ của tôi.

Cậu ấy tên Hàn Sinh, khi còn thơ bé, chúng tôi thường cùng nhau đi học, vui chơi nên vô cùng thân thiết. Thế nên từ đó mà tôi mới biết ông nội của cậu ấy chính là một đệ tử xuất mã. Thân hình ông lão gầy gò, ốm yếu, gương mặt khá phổ thông, không nhìn ra điểm nào khác với người thường cả.

Nhớ hồi còn nhỏ, trong nhà ông ấy cả ngày đều hương khói nghi ngút, ngoài cửa người đến xem bói xếp hàng dài tấp nập. Những người đến xem bói ấy, chẳng ai giống ai, người thì là nông dân bình thường, có người lại lái những chiếc xe hào nhoáng, còn có cả những ông chủ lớn xuất thân danh gia vọng tộc, cũng có người tai to mặt lớn của giới thượng lưu. Tất cả bọn họ, đều vì một nguyên do nào đó mà tụ tập tại nơi này, khiêm nhường đứng xếp hàng chờ gặp ông nội của Hàn Sinh. Họ đến từ khắp các nơi trên cả nước, điều này cũng đã phần nào cho thấy tiếng tăm lừng lẫy của ông nội bạn tôi.

Khi đó, tôi thường đến tìm Hàn Sinh chơi, nhưng chẳng bao giờ dám vào nhà cậu, chỉ len lén đứng núp ngoài bờ tường gọi với vào. Trong tôi luôn tồn tại một cảm giác sợ hãi khó tả đối với căn nhà này, vì từng có một lần tôi vô tình bắt gặp một cảnh tượng hãi hùng, cho đến tận bây giờ vẫn không thể quên được, nó giống như một nỗi ám ảnh hằn sâu, đeo bám trong tâm trí, khiến tôi không thể thoát ra và cũng chẳng dám bước chân vào đó một lần nào nữa.

Đó là khi tôi đến nhà rủ Hàn Sinh đi chơi, nhưng bởi người xếp hàng ngoài cửa quá đông, rất ồn ào, không gọi được cậu ấy, nên tôi bèn dứt khoát chạy vào trong tìm. Đi qua phòng của ông nội Hàn Sinh, tôi bắt gặp một gian phòng nhỏ hẹp đầy u ám, ông đang xem bói cho người ta ở bên trong. Lúc ấy, tôi nhất thời nảy sinh tính tò mò, liền tiến lại gần, dựa vào thành cửa ngó vào bên trong xem. Giữa căn phòng là một cái bàn thờ nghi ngút hương khói, trên tường treo một bức tranh phác họa cụ già tướng mạo trông vô cùng quái dị, xung quanh cụ là một đám trẻ, có cả nam, cả nữ. Mãi sau này tôi mới biết, người trong bức tranh đó chính là ông lão Hồ Tam – người thống lĩnh Xuất Mã Tiên.

Ông nội của Hàn Sinh trầm mặc, lạnh lùng nhìn cô gái đang quỳ dưới đất. Cô ấy có gương mặt thanh thoát xinh xắn, dáng người thon thả, đeo bông tai, vòng cổ, khoác trên mình một chiếc áo da lông, chân đi boot cao cổ, cả người toát lên vẻ thời thượng, vừa nhìn đã biết là thiên kim con nhà giàu. Thế nhưng, cô ta đang quỳ dưới đất, không biết vì chuyện gì mà nước mắt giàn giụa, van nài khổ sở.

Ông của Hàn Sinh lại không chút thương hoa tiếc ngọc, ánh mắt lạnh lùng quay sang một bên, cũng không buồn đỡ cô gái đó dậy, trên mặt thậm chí còn thoáng nét ghét bỏ, lạnh lùng buông một câu: “Cô làm ra bao nhiêu chuyện tán tận lương tâm như vậy mà vẫn còn muốn sống ư? Không cứu được nữa rồi, quay về chuẩn bị mà lo hậu sự đi!”

Cô gái nghe vậy liền hoảng loạn, khóc lóc thảm thiết, không ngừng cầu xin sự giúp đỡ, thế nhưng, thấy ông nội Hàn Sinh vẫn không chút lay động, cô ta đành tuyệt vọng, đờ đẫn đi về phía cửa. Khi ra ngoài, tôi thấy cánh tay trắng ngần của cô ta chi chít những vết lở loét, thậm chí còn mưng mủ, mùi hôi tanh bốc lên nồng nặc, khiến người ta không khỏi cảm thấy ghê tởm.

“Cởi bỏ cái áo khoác lông của cô đi, có lẽ còn sống thêm được vài ngày đấy!” Ông nội Hàn Sinh cất giọng nói, đầy vẻ thần bí.

Tôi quay đầu nhìn ông, nhận thấy người đang mang dáng vẻ kỳ quái, gương mặt lạ lẫm, hai mắt khép hờ trước mắt kia, dường như không còn là ông nội Hàn Sinh thường ngày, mà giống như một con hồ ly, với đôi mắt dữ tợn dõi theo bóng dáng cô gái, ánh mắt vô cùng sắc bén, tựa như vô cùng căm hận cô ta vậy.

Khoảnh khắc đó khiến tôi thực sự kinh hãi, nên vội vàng bỏ chạy ra ngoài.

Sau đó, tôi có hỏi Hàn Sinh về cô gái kia, cậu ấy nói rằng ông nội kể đó là con gái của một ông chủ doanh nghiệp giàu có, tuy rằng ăn sung mặc sướng, nhưng bởi áp lực đè nặng, nên thường ngược đãi những loài động vật nhỏ bé. Những con chó, con mèo chết thảm thương trong tay của cô ta nhiều không đếm xuể, mà oán khí của những con vật đó lại rất lớn, nên dần dần sinh ra những linh hồn phẫn uất, không ngừng cắn xé, giày vò kẻ gây tội. Vết lở loét trên cánh tay ấy là do những linh hồn này gây nên, chúng sẽ cắn xé từ cánh tay trở xuống, một khi cắn đến chân, e là khó mà giữ nổi mạng sống.

“Đây chính là luật nhân quả báo ứng, không thể phá giải. Nếu miễn cưỡng phá giải, tức là làm trái luật trời, ắt sẽ phải hứng chịu báo ứng khôn lường.”

Hàn Sinh thở dài, nói tiếp: “Mà kể cả có cách phá giải, cũng không thể giúp đỡ loại người như cô ta được. Con người độc ác như vậy không chỉ thích hành hạ các loài động vật nhỏ, mà còn thích mặc áo lông cáo, da báo. Tất cả các loại hoa văn, mẫu mã làm từ lông, da thú đều là cô ta đặt may riêng cho mình. Một năm làm đến những mấy bộ, mỗi bộ lại cần dùng hàng chục tấm lông của các con vật, cậu thử nghĩ xem, chiếc áo đó đã ngấm máu tươi của biết bao sinh mạng, chất chứa oán khí của bao sinh linh tội nghiệp, mặc lên mình chiếc áo như vậy, có thể sống an yên được ư? Vị tiên hộ thân trên người ông nội tôi là Hồ tiên (hồ ly), cô ta mặc một chiếc áo da hồ ly đến cầu xin hoá giải tai vạ, đây không phải là tự tìm đường chết hay sao? Hoạ không giáng xuống đầu cô ta thêm là nhân nghĩa lắm rồi!”

Tôi nghe xong suýt nữa bật cười thành tiếng, chẳng trách vị hồ ly đó lại căm ghét cô ta đến vậy.

Thuở đó, tôi cảm thấy xuất mã tiên là một thứ gì đó rất thần bí, nên thường tò mò mà hỏi Hàn Sinh về chủ đề này, cậu ấy cũng chẳng hề giấu giếm mà kể cho tôi nghe một số câu chuyện ly kỳ khi chứng kiến ông nội xem bói và xua đuổi tà ma cho người khác.

Thời điểm ấy, Hàn Sinh là người bạn tốt nhất của tôi, vốn tưởng cả hai sẽ mãi bên cạnh nhau, cùng học cấp ba, cùng lên đại học, nhưng không ngờ, năm lên lớp 9, gia đình của Hàn Sinh bỗng gặp phải biến cố lớn, cả nhà phải rời đi chốn khác, cũng từ đó, tôi không còn gặp lại cậu ấy nữa.

Lúc cậu ấy sắp rời đi, tôi cũng từng hỏi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng và trầm mặc. Trước khi đi, cậu ấy tặng cho tôi một cái răng sói cột dây đỏ, nói rằng có thể xua đuổi tà ma, đến tận bây giờ, tôi vẫn luôn giữ vật này bên mình. Chiếc răng sói ấy thực sự phát huy tác dụng, có một lần, khi đang vi vu du lịch ở huyện Phong Đô, tỉnh Tứ Xuyên, đen đủi thay, tôi đã gặp nạn, suýt nữa phải bỏ mạng nơi đất khách quê người, nhưng may mà chiếc răng sói này đã cứu tôi một mạng.

Thời điểm tôi gặp lại Hàn Sinh cũng đã là 10 năm sau đó rồi, chúng tôi gặp nhau trong một tang lễ ở thôn bên. Người đã khuất là họ hàng xa, có ơn giúp đỡ gia đình Hàn Sinh nên cậu ấy không quản đường sá xa xôi mà quay về phúng viếng. Bất cứ gia đình nào ở nông thôn cũng đều trân trọng và ghi nhớ những mối quan hệ thân thích như vậy. Trùng hợp thay, gia đình tôi cũng có quen biết với người mất, nên cũng đến tiễn đưa một đoạn đường. Bởi lẽ đó mà tôi đã gặp lại Hàn Sinh.

Sau khi tang lễ kết thúc, tôi mời cậu ấy ăn cơm, hai người vừa ăn vừa kể lại về những chuyện xảy ra lúc nhỏ, nào là trốn học, lên mạng, nào là chuyện về các bạn học trong lớp. Cuộc trò chuyện kéo dài từ trưa đến tận tối mịt, sau khi uống cạn 3 chai rượu trắng, cả hai đều vô cùng bùi ngùi, xúc động. Chớp mắt một cái mà 10 năm đã trôi qua, cảnh vật vẫn còn đó, chỉ là, người xưa nay đã khác.

Mượn men rượu, tôi lại nhắc đến chuyện cả nhà Hàn Sinh rời đi năm đó, khiến cậu ấy lặng mình rất lâu, sau đó uống cạn ly rượu trong tay, cuối cùng cũng chịu giải đáp những thắc mắc còn vướng bận trong lòng tôi khi xưa.

“Cậu có còn nhớ người em họ năm xưa của tôi không?” Hàn Sinh hỏi.

Tôi gật đầu. Hồi nhỏ, khi sang nhà tìm cậu đi chơi, thường thấy Hàn Sinh đang nô đùa cùng cậu em họ có vẻ ngoài trắng trẻo, thông minh lanh lợi và được rất nhiều người quý mến.

“10 năm trước, em họ tôi lâm bệnh nặng, bác sĩ trả về, nói không thể chữa khỏi. Sau khi ông nội xem cho em ấy, thì biết được số mệnh của nó trắc trở. Bởi đó là đứa cháu ông hằng yêu quý, vậy nên vô cùng đau lòng, nước mắt tuôn rơi và quyết dù có phải đánh đổi bằng mạng sống của ông cũng phải cứu được thằng bé.

Muốn cứu một người số mệnh sắp đứt như vậy, có hai cách.

Thứ nhất là mượn mạng.

Thứ hai là nối dài sinh mạng.

Mượn mạng, chính là hình thức mượn tuổi thọ của người khác để kéo dài mạng sống của mình. Tuy nhiên, cách này quá tàn độc, nếu người đó chỉ có tuổi thọ 10 năm, bây giờ ta lấy đi tất thảy 10 năm ấy, chẳng phải họ sẽ chết hay sao? Đây chẳng khác nào là giết người cả, bởi vậy cách này phạm phải luật trời, ắt sẽ bị đất trời khiển trách. Người làm ra chuyện này, không những chết cũng không yên ổn, mà còn liên luỵ đến con cháu đời sau.

Vì vậy ông nghĩ đến cách thứ hai, nối dài sinh mạng, cách này tốt hơn cách trên rất nhiều, sử dụng các loại bảo vật của trời đất, bảo đan, thần dược để “vá” mạng người.

Giới quý tộc thời xưa hay những ông quan lớn có chức có quyền luôn tìm đủ mọi cách để nuôi nhân sâm nghìn năm tuổi, mục đích cũng chính là để đến một ngày cảm thấy bản thân sắp không còn sống được bao lâu nữa sẽ nhổ lên ăn nhằm kéo dài mạng sống.

Tuy nhiên, những điều trên cũng chỉ giữ lại mạng sống trong thời gian tạm thời. Muốn thực sự nối dài sinh mạng, thì công hiệu của nhân sâm ngàn năm hay bảo vật của đất trời đều chưa đủ, ta còn cần đến một thứ thuốc dẫn, mang tên “thịt của linh đồng”.”

“Thịt linh đồng?” Tôi sửng sốt: “Đây cũng chẳng khác nào là hại người mà?”

Hàn Sinh cười, nói: “Linh đồng ở đây không phải chỉ người, mà là một con thú nhỏ, có linh khí, chúng thường được sinh ra bởi những con vật tu hành có đạo hạnh. Ngay từ khi mới ra đời, trên người chúng đã có linh khí, và đặc biệt, có thể biến thành người. Chúng thường xuyên hoá thân dưới hình dạng những đứa trẻ, bởi vậy mới được gọi là linh đồng. Do tuổi còn nhỏ chưa có yêu khí, nên chính là thứ phù hợp nhất để làm thuốc dẫn.”

Tôi gật đầu, thắc mắc: “Linh đồng không dễ kiếm phải không, tôi bằng này tuổi rồi, đến yêu quái còn chưa gặp chứ đừng nói là linh đồng được sinh ra bởi yêu quái!”

“Đó chỉ là vì cậu không phân biệt được thôi, cậu cho rằng những người cậu từng chạm mặt từ nhỏ đến bây giờ đều là người cả ư?”

Tôi bỗng đờ người, tóc gáy dựng cả lên.

“Cậu còn nhớ trong thôn chúng ta có một bà họ Bạch không? Bà lão sống cùng cháu ở ngôi miếu hoang bên kia sông ấy.”

Tôi gật đầu, vẫn nhớ trong thôn quả thực có một người như vậy. Dân làng nơi đây thường đến khám bệnh chỗ bà, thần kỳ ở chỗ, chỉ cần uống thuốc bà ấy kê là sẽ lập tức khỏi ốm, nhưng trước nay bà chẳng nhận của ai một xu nào bao giờ, chỉ cần có ai biếu một chút hoa quả là bà đã rất vui rồi, khiến cho mọi người vô cùng ái ngại.

Lúc đó tôi còn rất nhỏ, ngày ngày cắm đầu vào học hành, nghe lời ông bà bố mẹ phấn đấu làm học sinh ba tốt, nên đi trên đường gặp ai cũng sẽ chào hỏi, không bận tâm là có quen biết hay không. Khi gặp bà ấy, tôi cũng kêu toáng lên: “Cháu chào bà ạ!” rõ to, đáp lại lời chào ấy, bà dịu dàng xoa đầu tôi, rồi còn cho mấy quả táo để ăn nữa. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in, táo bà cho cực kỳ ngọt, không giống loại táo bình thường, ăn xong cả người bỗng ấm áp lạ kỳ. Cơ thể tôi vốn yếu ớt từ nhỏ, thường xuyên cảm lạnh, thế nhưng, sau khi ăn quả táo đó, cả người bỗng khỏe re, cũng không hay ốm vặt nữa.

Chỉ là, sau này không còn thấy hình bóng bà lão và đứa cháu kia, chẳng ai biết họ đã đi đâu.

“Lẽ nào… bà ấy không phải người?” Thấy Hàn Sinh đột nhiên nhắc đến, tôi kinh ngạc hỏi.

Hàn Sinh gật đầu, cười khổ nói: “Linh đồng mà ông nội tìm, chính là đứa cháu của bà ấy. Vạn vật đều có linh tính và tình cảm, chứ chưa kể đến những loài vật tu luyện nhiều năm, có trí khôn và thành tinh như thế. Giữa họ và con người đã không còn nhiều điểm khác biệt nữa. Bởi thế, sai lầm của ông nội lúc bấy giờ chính là không coi họ là con người, vì không nỡ nhìn đứa cháu mình yêu thương rời xa nhân thế mà lại đi sát hại cháu của “người” khác. Vậy nên mới gây ra hoạ lớn.

Bà lão họ Bạch đó không phải người, mà là một con nhím gai tu luyện đã mấy trăm năm. Tuy nhím gai cũng là một trong Ngũ Đại Tiên (Hồ tiên (Hồ ly), Hoàng tiên (Chồn), Bạch tiên (Nhím), Liễu tiên (Rắn) và Hôi tiên (Chuột)), thế nhưng so với hồ ly, chồn vàng, rắn và chuột, công cuộc tu luyện của loài vật này có đôi phần khó khăn hơn, cũng bởi vậy mà trở nên hiếm gặp.

Trong Ngũ Đại Tiên, Bạch tiên (nhím gai) được cho là hiền lành, tốt bụng nhất, bởi chúng thường làm việc thiện và cứu giúp con người. Lợi dụng điều này, ông nội tôi đã tìm một người ở thôn khác, giả ốm, rồi ngã trước cửa ngôi miếu nơi bà lão ở. Không ngoài dự đoán, bà lão thấy thế, quả nhiên đã đưa người đó vào trong chữa trị. Thế nhưng sau khi xem xét một hồi, không khám ra bệnh tình gì, nên bà luống cuống và cực kỳ lo lắng. Lúc này, người kia ung dung tỉnh dậy, bịa đặt rằng mình mắc bệnh nan y, trước đó có gặp được một vị tiên, truyền rằng chỉ có đóa hoa xanh của cây cỏ Long Diên mọc trên sườn núi Long Đầu mới có thể chữa khỏi.”

Bà lão vốn tính tình hiền lành, tốt bụng, không mảy may nghi ngờ, chỉ nghĩ rằng đạo hạnh của bản thân không đủ, nên mới không nhìn ra bệnh của người kia. Với tấm lòng hướng thiện, bà lên sườn núi hái thuốc giúp người đàn ông mắc bệnh nan y đáng thương. Thế nhưng dẫn theo cháu leo núi thì không tiện, nên bà đã để cậu bé ở nhà.

Còn đóa hoa xanh của cây Long Diên mà người đàn ông nhắc đến ban nãy chỉ là thứ được bịa ra, không hề có thật, thế nên bà lão lần mò khắp mọi nơi cũng chẳng thể tìm thấy. Cả buổi trôi qua, bà nuối tiếc trở về với cái giỏ trống không, còn đang bận suy nghĩ về đóa hoa kỳ lạ thì chợt nhận ra cả người lạ mặt kia lẫn đứa cháu của mình đều đã biến mất. Mất một lúc sau bà mới ngộ ra bản thân đã bị người ta lừa mất rồi.

Dù sao bà lão cũng đã tu luyện nhiều năm như vậy, ắt cũng phải có chút bản lĩnh, bấm quẻ tính toán thì phát hiện là do ông nội tôi làm. Bà vừa kinh ngạc, vừa tức giận, lập tức đến nhà đòi người. Thế nhưng ông nội ỷ có tiên hộ thân, nên không chút sợ hãi, sống chết không chịu thừa nhận.”

Nghe đến đây, tôi bỗng nảy sinh một nghi vấn, liền hỏi Hàn Sinh: “Theo lẽ thường, khi Tiên tìm đệ tử Xuất Mã để nhập vào, đều sẽ làm những việc thiện, tích góp công đức. Thế nhưng việc làm lần này của ông cậu có thể coi là tổn hại âm đức (việc làm nhân đức ở chốn dương gian đều được ghi công ở âm phủ), vậy cớ vì sao Hồ Tiên vẫn cho phép làm?”

“Nếu đổi thành Xuất Mã Tiên bình thường khác, chắc chắn sẽ không để ông làm như vậy. Thế nhưng Hồ Tiên đó lại từng mắc ơn tổ tiên nhà tôi, vì thế nó đã “ký” với ông một loại khế ước, do đó bắt buộc phải nghe theo lời của ông nội.” Hàn Sinh giải thích.

Tôi gật đầu: “Hèn chi lại như vậy.”

Hàn Sinh tiếp tục nói: “Bà lão họ Bạch đó biết ông nội có tiên hộ thân, nên không dám làm càn. Thế nhưng bà nói hết nước hết cái, ông vẫn không chịu thả cháu bà ra, một mực giữ ý định chế thuốc dẫn cứu em họ tôi.”

Nói đến đây, Hàn Sinh lại thở dài: “Nếu khi đó ông chịu giao cháu bà ta ra thì tốt rồi, như thế, sẽ không có những bi kịch ập đến sau này.”

“Sau khi đôi co với ông tôi hồi lâu, sắc mặt bà lão họ Bạch đột nhiên thay đổi, nước mắt trào ra, tưởng chừng như vừa phải gánh chịu một đả kích gì đó rất lớn, rồi ngã sõng soài xuống đất. Hoá ra trước khi bà lão tìm đến đây, ông nội sợ đêm dài lắm mộng, nên đã âm thầm căn dặn chú tôi nhanh chóng giết chết linh đồng kia, ông cho rằng một khi ván đã đóng thuyền, Bạch lão sẽ chẳng thể làm gì được nữa.

Bởi đã tu luyện nhiều năm, nên khi cảm nhận được cháu mình vừa mất mạng, bà ấy liền khụy xuống vì quá đau lòng. Nhưng rồi, bà bỗng đứng phắt dậy. Trước khi đi bà không nói câu nào, chỉ nhìn chằm chằm vào mắt ông nội hồi lâu rồi đi mất. Ông thấy bà ta đã đi xa thì thở phào nhẹ nhõm.

Tuy rằng thường nghe Bạch Tiên dùng phép cứu người, nhưng dù gì cũng đã tu luyện mấy trăm năm, một khi bị dồn đến bước đường cùng, nó có thể làm ra những chuyện gì để trả thù thì vẫn chưa thể biết rõ.

Sau khi Bạch lão đi xa, ông cứ ngỡ mọi chuyện thế là đã kết thúc, nên vô cùng yên tâm, nhanh chóng chạy đi bảo chú tôi nấu thuốc. Sau khi em họ uống thuốc, quả nhiên có tác dụng, chốc lát đã khoẻ hơn nhiều, có thể xuống giường đi lại, khiến ông nội vui mừng, cười không ngớt.

Chỉ có điều, không ai ngờ được rằng, bi kịch vẫn còn đang đợi ở phía sau.

Tối hôm đó, khi đang ngủ ở nhà chú, em họ bỗng sốt cao, rồi đột nhiên trợn trừng mắt, long sòng sọc, đỏ lừ đầy ghê rợn, tưởng như ai đó đang chọc ngoáy, rút hết máu ở trong mắt ra vậy, nó xuống giường không ngừng khuơ chân múa tay, trông vô cùng điên dại, nghiến răng thì thào: “Ông giết cháu tôi, vậy thì cháu ông cũng đừng hòng sống sót”.

Chú tôi tưởng nó bị Bạch lão nhập vào, vội vàng gọi ông nội đến xem. Vừa nhìn thấy mắt cháu mình đỏ lừ, ông hoảng hốt, sắc mặt tím tái, run sợ nói không phải có người nhập vào, mà là đang thực hiện phép đổi mạng. Nếu chỉ là nhập thân thì vẫn còn hy vọng cứu được, có thể nhờ Hồ Tiên trong nhà đuổi Bạch lão đi. Nhưng đổi mạng thì lại phức tạp hơn nhiều, không ai có thể đuổi Bạch lão ra, bởi bà ta đang đặt cược mạng sống ngàn năm của chính mình, muốn mạng đổi mạng với cháu ông, không ai có thể phá giải nổi.

Ông không ngờ rằng Bạch lão lại dám liều mình làm như vậy. Chỉ vì báo thù, đến công lực tu luyện mấy trăm năm cũng không cần, giờ đây ngay cả mạng sống của bản thân cũng không màng! Bạch Tiên gì cơ chứ, rõ ràng là Hoàng Tiên (chồn tinh), kẻ thù lâu nhớ dai, có thù ắt phải báo mới đúng.

Khi ấy, em họ tôi vẫn đang nghiến răng nghiến lợi, trừng mắt nhìn chằm chằm vào ông, ánh mắt tràn đầy sự thù hận, miệng lẩm bẩm như chửi rủa điều gì đó. Không đúng! Nó không nói gì cả, mà là đang cắn! Ông vừa nghĩ thế thì máu trong miệng thằng bé đã trào ra.

“Không ổn rồi, mau nhét vải bông vào mồm nó!” Ông tôi hét lên.

Hoá ra em họ muốn cắn lưỡi tự tử, nó muốn chết ngay trước mặt ông. Chú tôi vội vàng chạy đến ngăn lại, nhưng không hiểu thằng bé lấy sức lực từ đâu mà trở nên mạnh mẽ đến thế, mấy người xông lên cũng không ghìm nó lại được. Thằng nhóc chạy khắp phòng, vừa chạy vừa nhìn ông tôi cười khinh khỉnh, rồi bỗng thấy một cái kéo, nó vớ lấy, toan cầm lên đâm vào người mình, thì may thay chú đã nhanh chóng cướp lại được. Mất rất lâu sau cả nhà mới trói chặt nó lại, nhét vải bông vào miệng em họ.

Việc Bạch lão muốn đổi mạng, ông nội không có cách để giải quyết, nên vội vàng để Hồ Tiên nhập vào, hỏi cách cứu giúp. Vừa thấy người ông tôi run lên bần bật, chầm chậm mở mắt, vẻ mặt khác hẳn lúc trước, mọi người trong nhà liền nhận ra Hồ Tiên đã đến rồi. Toan thuật lại tất cả mọi chuyện cho Hồ Tiên nghe, thì nó liền xua tay, nói mình đã biết toàn bộ mọi chuyện. Việc làm lần này của cả nhà quả thực không được đúng, nó biết rõ Bạch Lão là một “người” cực kỳ hiền lành, lần này, bị ép đến mức như vậy…

Nó thở dài: “Nếu Bạch Tiên đã muốn đổi mạng, thì thật sự không còn cách nào cứu vãn. Tuy nhiên, vì ta mang ơn với tổ tiên của các người nên sẽ dốc hết sức cứu giúp. Nhưng, không dễ bề phá giải phép đổi mạng này, vậy nên có thể thành công hay không, còn phải tự dựa vào bản lĩnh cháu của các ngươi.” Hồ Tiên nhìn vào đứa em họ đang bị trói mà nói.

Mọi người trong nhà gật đầu lia lịa, thoáng chốc đã thấy sắc mặt ông tôi trở lại bình thường. Song, em họ tôi bỗng hét lên đầy đau đớn, sắc mặt lúc phẫn nộ, lúc lại bình thường, khi hồ đồ, khi lại tỉnh táo, lúc mắng mỏ quát tháo, lúc lại bình tĩnh không nói năng gì. Trong người nó dường như đang hiện diện hai linh hồn, đôi co giằng xé không ngừng. Cứ như vậy, bị giày vò đến tận khi trời sáng, em họ tôi mới bình thường trở lại. Mọi người trong nhà thấy nó không còn giãy giụa, sắc mặt cũng đã tĩnh lại phần nào nên nghĩ rằng Bạch Tiên đã đi, thở phào đầy nhẹ nhõm.

Đúng lúc này, thằng bé bỗng thở dài, giọng nói uể oải, cực kỳ mệt mỏi, không giống với nó của mọi khi. Mọi người mới chợt nhận ra Hồ Tiên vẫn đang chiếm lĩnh bên trong thân xác nó.

Hồ Tiên chậm rãi nói: “Ta đã cố hết sức, cuối cùng cũng giành giật lại được mạng sống của thằng bé.” Mặt ông thoáng nét ngập ngừng như muốn nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi.

Mọi người nghe tin em họ đã được cứu, đều vui mừng khôn xiết, cảm tạ trời đất, thần linh.

Hồ Tiên nhìn về phía ông, im lặng hồi lâu mới hé lời: “Từ thời khắc này, duyên phận của ta và nhà ngươi cũng chấm dứt, ơn đã báo xong, giờ thì ta phải đi đây!”

Ông nội nghe thấy thế không nói được gì, chỉ lặng lẽ rơi nước mắt.

Mãi sau này ông mới kể với tôi, Hồ Tiên đã dùng pháp lực tu luyện mấy trăm năm chặn giúp em họ kiếp nạn chết chóc này, vì vậy bản thân đã tiêu tan hết pháp lực, do đó cũng không thể tiếp tục làm Xuất Mã Tiên được nữa.

Trưa hôm ấy, có người phát hiện một con nhím gai chết cạnh dòng sông gần cái miếu hoang, nơi khi xưa bà lão họ Bạch khám bệnh, phát thuốc cho dân làng. Không biết ai đánh nó dã man, mà từ mắt, mũi, miệng đều tuôn ra dòng máu đỏ thẫm, nhuốm đầy thân mình. Khi đó, có người đồn đại rằng con nhím này đã thành tinh, muốn đến hại người, nhưng lại bị sét trời giáng xuống đánh chết.

Mà không ai biết rằng, thực ra, con nhím đáng thương ấy chính là Bạch lão tốt bụng kia.

Sau khi nghe Hàn Sinh kể lại câu chuyện này, tôi ngẫm lại, quả thực đúng là như vậy. Còn nhớ khi xưa, khi dân làng đồn thổi chuyện này, đến học sinh trong trường ai cũng đều biết, thậm chí còn khiến mấy bạn nữ nhát gan không dám về nhà một mình.

Sau đó, người ta sợ con nhím sẽ sống lại, nên đã thiêu nó thành tro. Giờ đây khi nhớ lại, Bạch lão năm đó quả thực vô cùng đáng thương.

Hàn Sinh tiếp tục nói: “Hồi trước, khi ông tôi vẫn làm đệ tử xuất mã, thường xuyên giúp người trừ tà, tránh cái ác, thế nên đắc tội không ít “người”. Bây giờ Hồ Tiên đã đi mất, không còn sự bảo vệ của tiên hộ thân, ông nội sợ rằng sẽ bị “người ta” tìm đến gây sự, nên cùng cả nhà chuyển đi nơi khác sinh sống.”

Thì ra đây chính là lý do năm xưa nhà cậu ấy chuyển đi gấp gáp như vậy.

“Ông nội cậu bây giờ vẫn khỏe chứ?” Cùng Hàn Sinh uống thêm mấy chén, tôi tiện mồm hỏi thăm.

Hàn Sinh cười khổ, nói: “Ông nội tôi cũng đã mất được mấy năm rồi.”

Tôi giật mình ngạc nhiên. Trong ký ức của tôi, ông nội Hàn Sinh chưa già lắm, hơn nữa, hồi trước sức khoẻ vẫn còn rất khá.

“Sau khi chúng tôi chuyển nhà, chẳng bao lâu sau thì phát hiện em họ lại không được bình thường. Cả ngày nó cứ lẩn thẩn, ngơ ngác, không được thông minh lanh lợi như hồi trước. Sau này cả nhà mới biết, tuy rằng Bạch Tiên đổi mạng không thành công, thế nhưng đã gây ra không ít tổn hại đến hồn phách thằng bé. Lúc đó Hồ Tiên cũng biết được điều này, chỉ là không nỡ nói ra mà thôi.

Em họ bỗng dưng trở nên ngu ngơ, khiến ông tôi vô cùng phiền lòng.

Hai năm sau, khi đang rong chơi bên ngoài, thằng bé đột nhiên nhìn thấy một con nhím, chắc hẳn cảm thấy tò mò, nên đã chạy theo nó. Không ngờ rằng, con nhím ấy lại bò xuống giếng, khiến em họ tôi cũng ngây ngô mà nhảy xuống theo. Cảnh tượng này lọt vào mắt một người hàng xóm đứng gần đấy, thế nhưng ông ta cũng chẳng kịp làm gì, vừa thấy thằng bé rơi xuống liền vội vàng hô hoán người đến vớt. Sau khi vớt lên, nó đã tắt thở rồi.

Ông tôi nhìn thi thể cháu mình đầy thương xót, mấy ngày liền không ăn không uống, đau khổ trằn trọc, đêm không ngủ được. Có lẽ cũng bởi vậy mà không lâu sau thì đổ bệnh, gắng gượng được mấy ngày rồi ra đi.

Trước khi mất, ông từng thú nhận cái sai của bản thân. Lệnh trời không thể làm trái. Tất cả đều có số mệnh riêng, em họ tôi nhờ con nhím mà sống thêm được 2 năm nữa, nhưng cũng chính bởi con nhím mà mất mạng, phải chăng đây là số trời. Ông hối hận, trách bản thân đáng nhẽ không nên cố chấp như vậy, hại Bạch lão và cháu bà ta, hại Hồ Tiên, hại cháu trai, rồi cuối cùng hại cả chính bản thân mình.”

Nói đến đây, Hàn Sinh uống cạn chén rượu, vẻ u uất, đau buồn hiện rõ trên mặt cậu ta.

Tôi nghe xong câu chuyện cũng cảm thấy trong lòng nặng trĩu, quả thực thương tâm. Đáng nhẽ ra, ông Hàn Sinh là người được ban số mệnh làm việc thiện, cứu giúp dân lành, ấy thế lại vì chính đứa cháu của mình mà gây ra tội ác táng tận lương tâm.

Tuy đáng trách nhưng cũng thật đáng thương.

Nhưng, một khi đã làm sai, thì ắt sẽ phải gánh chịu hậu quả. Kết cục này âu cũng là do ông tự chuốc lấy.

Rượu thịt no say, tôi mơ màng nhìn Hàn Sinh đang gục đầu trên bàn, liền dìu anh ta lên giường. Lúc này trời cũng đã sẩm tối, có lẽ nên để anh ta ở lại nhà một đêm thì hơn. Sáng hôm sau, trước khi đi, cả hai còn cho nhau số điện thoại, sau đó tôi mới tiễn anh ta ra về.

Cứ ngỡ rằng, sau cuộc chia tay ngày hôm nay, sẽ rất lâu mới có dịp gặp lại.

Ấy thế mà, mấy ngày sau, nhà tôi đào giếng lại bắt gặp một thứ vô cùng đáng sợ, suýt chút nữa thì đòi mạng tôi. Bởi vậy, tôi không thể không liên lạc với Hàn Sinh, nhờ cậu ta giúp đỡ, dù gì cũng đã ở bên ông nội nhiều năm như vậy, ắt hẳn cậu cũng hiểu biết ít nhiều về mấy thứ kỳ dị này. Và tận khi ấy tôi mới vỡ lẽ, hoá ra vì một cơ duyên nào đó, mà cậu ấy cũng đã trở thành đệ tử Xuất Mã, giống ông khi xưa.

– HẾT –

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *