Thứ sáu, ngày 01/05/2026 07:22 GMT+7
Gia Khiêm Thứ sáu, ngày 01/05/2026 07:22 GMT+7
“Đúng ngày 1/5/1975, mẹ tôi gặp lại cha rồi lặng người nói: “Anh đã về!”. Cha tôi khi ấy ngước lên gật đầu, rồi nhìn xuống cốc nước, không nói lời nào”, bà Đặng Chính Giang, con gái của Thiếu tướng Đặng Trần Đức nhớ lại giây phút cha mẹ gặp đoàn tụ sau hơn 21 năm xa cách.
Người đàn ông ngồi lặng im trong căn phòng nhỏ ở khu tập thể Kim Liên, Hà Nội với dáng vẻ gầy, nước da đen sạm dạn dày sương gió cách đây tròn 51 năm, sau Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (1922-2004) mật danh Ba Quốc – một trong những điệp viên huyền thoại của tình báo Việt Nam.
Suốt hơn 20 năm hoạt động đơn tuyến trong lòng chính quyền Sài Gòn, ông là điệp viên hiếm hoi thâm nhập được vào cơ quan tình báo đầu não của đối phương, từ đó chuyển ra miền Bắc nhiều tin tức chiến lược.
Ông trở về Hà Nội khi Sài Gòn được giải phóng. Trong căn phòng nhỏ đông đủ vợ con, họ hàng, vị tướng tình báo năm ấy ngồi lặng im bên cốc nước, nhìn người vợ đã chờ mình suốt 21 năm mà không nói nên lời.
Cuộc đoàn tụ đặc biệt của tướng tình báo và gia đình sau hơn 21 năm qua lời kể con gái
Ngồi trong căn nhà nhỏ ở phường Vĩnh Hưng, Hà Nội, bao ký ức ùa về với bà Đặng Chính Giang (78 tuổi). Cách đây đúng tròn 51 năm (1/5/1975), gia đình bà đã được đoàn tụ sau hơn 21 năm thiếu vắng bóng dáng người cha – Thiếu tướng tình báo Đặng Trần Đức.
Từng kỷ vật gắn liền với cuộc đời cha và hai người mẹ được bà Giang, người thân gìn giữ cẩn thận, như chứng tích cả cuộc đời ba con người vô cùng đặc biệt ấy. Thiếu tướng Đặng Trần Đức từng là điệp viên huyền thoại, biểu tượng của trí tuệ và lòng trung thành trong lịch sử tình báo Việt Nam.

Trong câu chuyện với PV Dân Việt, bà Giang kể, trưa 30/4/1975, loa phát thanh vang tin: “Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Thành phố Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng. Cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy quyền…”. Khi ấy 26 tuổi, bà Giang sống cùng mẹ, chồng và 2 con nhỏ ở Đông Anh (Hà Nội). Niềm vui hoà bình thống nhất đất nước rộn ràng khắp mọi tuyến đường.

Vui mừng cuống quýt, gia đình bà chuẩn bị tem phiếu để mua thịt ăn mừng vì thể nào em đóng quân ở Phủ Lỗ cũng tranh thủ về nhà. Sáng 1/5, vừa đạp xe về đến cổng, bà Giang thấy chú ruột từ khu tập thể Kim Liên hớt hải tới báo tin. Thấy chị dâu, người chú nói: “Chị ơi! Anh cả về rồi!”.
“Lúc ấy tôi đứng sững. Mừng thì có mừng, nhưng đầu óc trống rỗng. Bố đi từ năm tôi 5 tuổi, không có lấy một tấm ảnh. Tôi chẳng biết mặt bố ra sao”, bà Giang nhớ lại.
Một số người đạp xe về trước. Bà Giang cùng mẹ là Phạm Thị Thanh và con nhỏ ra ga Đông Anh, bắt tàu về nhà ở khu tập thể Kim Liên đón cha. Suốt quãng đường, bà hồi hộp nghĩ về người cha gắn với hình ảnh ngồi cạnh ngọn đèn dầu đêm nào.

“Mẹ tôi lạ lắm, cả quãng đường không nói gì, cũng không khóc, chỉ ngồi im”, bà Giang nhớ lại. Cậu em trai đến nhà trước, chạy lên cầu thang rồi ngoái xuống gọi: “Mẹ ơi, người ta bảo là bố con đấy, nhưng con không biết có phải không”.
Bà Thanh bước lên, rẽ vào căn phòng nhỏ. Trong nhà lúc này đông đúc họ hàng, người đàn ông ngồi ở bàn uống nước, gầy, da sạm, mặc bộ quần áo lính bạc màu.
Ông Đức ngước lên nhìn vợ. Bà Thanh cũng nhìn lặng người nói: “Anh đã về!” rồi gật đầu. Sau khi mọi người giới thiệu, ông Đức kéo con gái ra hành lang, dúi vào tay ít tiền và nói: “Con cầm lấy, đi chợ làm mâm cơm”. Ông cũng tặng con gái chiếc đồng hồ Rado được thủ trưởng đơn vị cho.

“Cha tôi nói, thủ trưởng đưa cho hai chiếc đồng hồ Rado một nam, một nữ bảo tặng cho một chiếc. Cha tôi đã chọn chiếc đồng hồ nữ để tặng cho tôi. Tôi xem nó như một kỷ vật. Trong ký ức của tôi, khi ấy ông đen đúa, ngồi im, không có thiện cảm. Thấy mẹ tôi chỉ gật đầu thôi, không hề nói câu gì, lặng đi. Có lẽ bởi quá lâu khiến tình cảm cha con xa cách”, bà Giang hồi ức.
Hôm ấy, họ mua gà, rau rồi làm cơm mời họ hàng. Sau khi mọi người ăn uống đi về, bà Giang thấy cha mẹ nói chuyện, tâm sự rất lâu. Về nhà chưa đầy 2 ngày, chưa kịp biết vợ con đang ở đâu, ông Ba Quốc lại nhận lệnh trở vào Nam, tiếp quản Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo. Sau hơn 21 năm xa cách, ông Đức lại tạm gác chuyện gia đình trở vào Nam.
Sự hy sinh đặc biệt của hai người vợ
Từ cái gật đầu ngày đoàn tụ, bà Giang nhớ về cái gật đầu đầu tiên của mẹ hơn 21 năm trước đó. Năm 1954, khi Hiệp định Geneve chuẩn bị được ký kết, tổ chức quyết định đưa ông Đặng Trần Đức vào Nam, tiếp tục bám địch và xây dựng mạng lưới tình báo chiến lược. Muốn đi sâu vào bộ máy đối phương, ông phải xóa sạch lý lịch, mang thân phận mới.

Để tạo lớp “vỏ bọc” đủ kín cho một điệp viên đi vào lòng địch, tổ chức bố trí ông kết hôn với bà Ngô Thị Xuân. Cuộc hôn nhân ấy là thật, không phải một cuộc cưới giả. Người đầu tiên được báo chuyện này là bà Phạm Thị Thanh, người vợ lúc đó ở ngoài Bắc.
Bà Thanh không xa lạ gì với cách mạng. Bà từng làm trong ngành công an, từng cùng chồng tham gia phá vụ án Ôn Như Hầu ở phố Hàng Bún sau Cách mạng tháng Tám. Đến năm 1949, lấy ông Đức, bà mới rời công tác. Khi nghe chồng nói phải vào Nam, phải xóa lý lịch và phải lấy thêm một người vợ khác, bà xin thời gian để suy nghĩ.

“Tôi nghe mẹ kể lại, bà suy nghĩ đúng một ngày một đêm. Rồi mẹ tôi nói đấy là nhiệm vụ thì anh cứ đi. Việc gì có lợi cho Đảng, cho Tổ quốc thì anh cứ làm. Mong anh sớm hoàn thành được nhiệm vụ Đảng và Tổ quốc giao. Còn con, em nuôi”, bà Giang kể lại lời mẹ.
Lúc ấy, bà Giang mới 5 tuổi. Em trai còn nằm trong bụng mẹ. Ông Đức hẹn 2 năm sẽ về. Bà Thanh chỉ nói: “Thôi đừng nói 2 năm, cứ biết là thế”.
Vào Nam hoạt động cách mạng, ông Đức mang tên mới là Nguyễn Văn Tá. Ở ngoài Bắc, những năm tháng khó khăn của mẹ con bà Thanh bắt đầu. Để giữ bí mật tuyệt đối, bà Thanh chỉ nói với các con rằng bố đi làm xa. Ít lâu sau, từ công việc ổn định ở Nhà máy in Tiến Bộ, bà bị điều lên Nông trường chè Vân Lĩnh, Thanh Ba, Phú Thọ. Nếu tiếp tục ở Hà Nội, lý lịch gia đình rất dễ bị dò xét. Những năm ở nông trường, bà Thanh sống bằng đồng lương ít ỏi để nuôi 2 con.

“Mẹ tôi sức yếu, không làm được việc nặng, người ta cho đi hái chè, làm tương ớt rồi làm căng tin. Lương mỗi tháng chỉ hơn 30 đồng, nuôi 3 mẹ con”, bà Giang kể.
Từ cô bé đang học lớp 1 ở Hà Nội, bà Giang thành đứa trẻ lớn lên giữa đồi chè Phú Thọ. Một buổi đi học, một buổi đi hái chè thuê. Đến tuổi 15-16, bà tranh thủ dạy lớp vỡ lòng để kiếm thêm tiền đỡ đần mẹ. Nhưng theo bà Giang, cái khổ nhất không phải cái đói, mà là điều tiếng.
“Hồi đó, cuộc sống của mấy mẹ con tôi vô cùng khó khăn. Ấy vậy nhưng chưa thấm vào đâu khi đi ra ngoài bị bạn bè xa lánh, dè bỉu, thầy cô phân biệt. Tuổi thơ của chị em tôi ít tiếp xúc với người ngoài, co cụm lại và rất ít bạn”, bà Giang tâm sự.
Có lần tủi thân đến bật khóc, cô bé Giang khi ấy hỏi mẹ: “Có đúng bố theo giặc vào Nam nên con mới bị đối xử như vậy? Con không được phân mua sách giáo khoa, vậy con thuộc thành phần nào ạ?”.
Nghe con gái nói xong, bà Thanh thẳng thắn nói: “Bố con không phản quốc, con cứ tin là như vậy”.
Nếu cha không phải là người chồng tốt thì không bao giờ mẹ bà Giang lại có sự hy sinh, kiên định chờ đợi đằng đẵng với bao cay đắng, tủi hờn đến như vậy.

Trong khi bà Phạm Thị Thanh âm thầm chịu đựng tủi cực và điều tiếng ở miền Bắc, thì ở miền Nam, bà Ngô Thị Xuân cùng các con cũng lặng lẽ gánh một phần đời không kém nhọc nhằn. Sự khéo léo của bà Xuân, cùng thân phận “không dính dáng cách mạng”, giúp ông Ba Quốc hoàn thiện lớp vỏ bọc sĩ quan làm việc trong bộ máy tình báo của chính quyền Sài Gòn.
Ban đầu, bà Xuân không biết chồng là ai. Nhưng sống bên nhau, bà dần nhận ra những điều bất thường: những chuyến đi về thất thường, những đêm ông lặng lẽ làm việc, những khoản tiền được giấu rất kỹ rồi lại biến mất. Bà không hỏi, cũng không tra xét. Bà mở cửa hàng bán đồ khô, tằn tiện nuôi 4 đứa con, giữ mái nhà đủ yên để chồng hoàn thiện vỏ bọc trong lòng địch.
“Mợ Xuân ở trong đó cũng khổ lắm, một mình nuôi các em chứ không sung sướng gì”, bà Giang nói.

Phần lớn lương của ông Ba Quốc được dành cho cơ sở và giao liên, phần còn lại mới gửi về gia đình. Mọi toan tính trong nhà đều dồn lên vai bà Xuân. Bà vừa giữ yên mái nhà, vừa nuôi con, vừa sống trong nỗi lo thường trực về một ngày chồng bị lộ hoặc cả gia đình gặp biến cố.
Năm 1974, khi đường dây tình báo bị lộ, ông Ba Quốc phải rút vào căn cứ. Bà Xuân và các con bị bắt, trải qua nhiều tháng thẩm vấn nhưng không ai khai nửa lời.
Ngày 1/5/1975, trong bữa cơm đoàn tụ đầu tiên, ông Đặng Trần Đức mới kể cho gia đình ngoài Bắc nghe phần đời còn lại của mình: ông đã sống với bà Xuân 21 năm và có với nhau 4 người con.
Nghe xong, cả nhà lặng đi. Nhưng điều bà Giang nhớ nhất không phải cú sốc ấy, mà là cách mẹ mình đón nhận. Không ghen tuông, không oán trách, không một lời hơn thua. Nhìn từ góc độ một người phụ nữ, bà Giang nói điều khiến bà kính phục nhất ở mẹ là sự nhẫn nại và lòng tự trọng.
“Tôi nhìn thấy ở mẹ tôi sự chịu đựng hy sinh. Có thể làm tất cả vì chồng, vì con. Dù một mình nuôi hai con trong sự thiếu thốn và điều tiếng nhưng mẹ vẫn lặng lẽ chờ đợi, không một lời oán trách. Bao nhiêu năm sống cùng mẹ tôi chưa từng thấy mẹ khóc kể cả lúc mẹ đau yếu nhất. Tôi mới hiểu mẹ chịu đựng đến mức độ nào”, bà Giang kể.
Càng về sau này, bà càng hiểu sự hy sinh trong gia đình mình không chỉ thuộc về mẹ đẻ. Nếu bà Thanh ở ngoài Bắc lặng lẽ chịu đựng để giữ bí mật cho chồng, thì bà Xuân ở trong Nam cũng âm thầm gánh vác một phần hy sinh không nhỏ. Với bà Giang, cả 2 người phụ nữ ấy đều xứng đáng được nhắc đến như những người cùng giữ trọn hậu phương cho một người đi qua chiến tranh.
Năm 1981, bà Xuân ra Bắc thăm gia đình bà Thanh. Cuộc gặp diễn ra lặng lẽ và tự nhiên như giữa 2 người phụ nữ đã hiểu hết phần đời của nhau. Họ ngồi với nhau đến khuya, hỏi chuyện nuôi con, chuyện đau ốm, chuyện những năm tháng đã đi qua. Không ai hỏi ai thiệt hơn. Không ai nhắc đến ghen tuông. Sau này, các con trong Nam gọi bà Thanh là “mẹ Thanh”. Chị em ngoài Bắc gọi bà Xuân là “mợ Xuân” theo cách gọi miền Nam.
“Gia tài lớn nhất cha mẹ và mợ tôi để lại là các con biết thương nhau. Chúng tôi chưa từng tranh chấp hay phân biệt mẹ này mẹ kia”, bà Giang chia sẻ.
Giờ đây, vào những ngày giỗ chạp của cha mẹ và “mợ Xuân”, con cháu 2 miền vẫn trở về đông đủ. Người gọi “mẹ Thanh”, người gọi “mợ Xuân” vẫn ngồi chung mâm cơm. Hiện con cháu đang thờ Thiếu tướng Đặng Trần Đức cùng hai người vợ tại nhà tưởng niệm ngay cạnh con đường mang tên Đặng Trần Đức ở phường Vĩnh Hưng, Hà Nội. Bà Giang dăn dạy con cháu không ngừng nỗ lực, phấn đấu trong công việc, luôn noi gương cha ông, thê hệ đi trước để phấn đấu xây dựng Tổ quốc.