Người bình thường ở Mỹ (và tôi cũng cho rằng là ở hầu hết các nước phương Tây) về cơ bản luôn coi Afghanistan là một quốc gia khủng bố và / hoặc một quốc gia thất bại, kiểu gia tộc, nơi các nhóm sắc tộc xung đột trong bối cảnh một chính quyền trung ương yếu kém. Với điều này, cũng như thực tế là Afghanistan đang tan rã như chúng ta nói, thật đáng ngạc nhiên khi 50 năm trước đây đó là một quốc gia ổn định mà nhiều khách du lịch đã đến thăm. Làm thế nào mà một quốc gia đã có thể trụ được trong suốt thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh cho đến giữa những năm 1970 lại trở thành định nghĩa chính xác về một quốc gia thất bại trong môi trường địa chính trị hiện tại của chúng ta?
_____________________
u/SuperKamiGuru1994 (3.1k points – x1 platinum – x3 golds – x7 silvers)
Một điều tôi thực sự muốn chỉ ra là tình hình hiện tại ở Afghanistan cũng đi đôi với việc Liên Xô rút quân.
Vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Afghanistan mà sẽ đi vào lịch sử với tên gọi “Cách mạng Saur”; Saur là từ tiếng Ba Tư để chỉ tháng cho tháng Tư. Cuộc đảo chính này là cuộc đảo chính thứ hai trong thập kỷ đối với Afghanistan. Năm 1973, Quốc vương Afghanistan bị Mohammed Daoud Khan, cựu Thủ tướng Afghanistan và là em họ của Quốc vương lật đổ. Chính phủ của Mohammed Daoud Khan đã thành lập một nước cộng hòa độc đảng thiên tả. Lý do của cuộc đảo chính năm 1973 có nhiều nhưng một số lý do cần nêu ra là vấn đề sắc tộc và sự thất bại của chế độ quân chủ trong việc đạt được những cải cách. Tuy nhiên, thời gian tại vị của Mohammed Daoud Khan rất ngắn ngủi khi chính phủ của ông bị lật đổ bởi Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan (PDPA), đảng tuyên bố theo hệ tư tưởng Marxist. Đảng mới này bắt đầu thiết lập quan hệ với Moscow và cũng đồng thời bắt đầu xa lánh một số người dân bản địa. Chẳng bao lâu dân số nông thôn của đất nước đa số theo đạo Hồi dòng Sunni, cảm thấy bị đe dọa bởi “những kẻ Marxist vô thần” đang nắm quyền, đã phát động một cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của PDPA. Vào ngày 15 tháng 3 năm 1979, một sư đoàn quân đội Afghanistan đóng tại thành phố Herat phía tây đã chống lại PDPA, tàn sát các cố vấn Liên Xô và gia đình của họ sống trong thành phố, kết thúc với số người chết là 5.000 sau khi những người trung thành với PDPA dập tắt cuộc nổi dậy. Ngay sau đó, PDPA đã yêu cầu sụ giúp đỡ từ Liên Xô, đồng minh Marxist của họ, để bảo vệ vị thế chính trị của nó đối với đất nước. Có nhiều lý do khiến Liên Xô tiến tới chiến tranh, nhưng như Artemy Kalinovsky đã tóm tắt trong Decision-Making and the Soviet War in Afghanistan: From Intervention to Withdrawal thì việc hoạch định chính sách của Liên Xô trong suốt thập kỷ đến từ một nhóm ít người trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU). Kalinovsky nói rằng nhóm người này này tin rằng sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Afghanistan sẽ làm tổn hại đến vị trí và quyền lực của Liên Xô với tư cách là người lãnh đạo phong trào Cộng sản và người ủng hộ phong trào “giải phóng dân tộc”. Ông cũng tuyên bố rằng do các báo cáo tích cực trên thực địa ở Afghanistan. Bộ Chính trị tin rằng họ có thể thay đổi Afghanistan, ổn định chính phủ và đạt được sự công nhận của quốc tế đối với chính quyền cộng sản ở Kabul. Những yếu tố được liệt kê này đã khiến Liên Xô miễn cưỡng huy động lực lượng quân sự khổng lồ của mình vào quốc gia miền núi Afghanistan để bảo vệ đồng minh ý thức hệ của mình. Liên Xô, như Hoa Kỳ ở Việt Nam và Afghanistan thế kỷ 21, lần đầu tiên cử nhiều cố vấn quân sự hơn để đơn giản là huấn luyện những người lính trung thành. Tuy nhiên, điều này tỏ ra không hiệu quả vì nhiều binh sĩ chỉ đơn giản là đào ngũ hoặc bị tàn phế như ở Herat. Vì vậy, vào ngày 24 tháng 12 năm 1979, Lực lượng Vũ trang Liên Xô đã tiến hành một cuộc can thiệp của Tập đoàn quân 40 vào Afghanistan với tổng số 75.000 người. Liên Xô dự kiến cuộc xung đột này chỉ kéo dài vài tháng. Những gì được cho là một vài tháng đã trở thành một cuộc xung đột đẫm máu 10 năm (Trans: nghe hao hao cuộc chiến vĩ đại nào đấy). Chiến lược của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh là không tập trung vào các vùng nông thôn của đất nước, mà tập trung lực lượng của mình vào các trung tâm thành thị, nơi lực lượng PDPA là mạnh nhất và đảm bảo an ninh mạng lưới giao thông của đất nước với trọng tâm hàng đầu là sử dụng đường hàng không và xe bọc thép để hoạt động và chủ yếu tập trung vào các hoạt động nhằm gieo rắc nỗi sợ hãi cho dân thường nông thôn. Cơ sở lý luận cho chiến lược chủ yếu gián tiếp này là Mujahideen.
Mujahideen là nơi Hoa Kỳ xuất hiện trong bức tranh về tình hình hiện tại ở Afghanistan. Nhưng đầu tiên ai là Mujahideen? Mujahideen là những chiến binh kháng chiến chủ yếu đến từ miền đông của Afghanistan và Pakistan với phần lớn là dân tộc Pashtun. Nhiều người theo chủ nghĩa thánh chiến tin rằng cuộc chiến này là một cuộc thánh chiến nhằm bảo vệ Dar al-Islam (Nhà của Hồi giáo) chống lại chủ nghĩa Marx và Chủ nghĩa vô thần. Mujahideen ban đầu chỉ được hỗ trợ tích cực bởi Pakistan, những người rất lo sợ rằng việc có một nước láng giềng là đồng minh của Liên Xô ở phía tây và Ấn Độ đã được Liên Xô hỗ trợ ở phía đông sẽ đe dọa chủ quyền quốc gia của họ. Với sự hỗ trợ quốc tế ít ỏi như vậy; Mujahideen phải phụ thuộc nhiều vào chiến thuật chiến tranh du kích ở những vùng đèo núi của Afghanistan; tập trung các cuộc tấn công của họ vào các tàu vận tải của Liên Xô đi qua. Điều này khiến cuộc chiến ở thế cân bằng bấp bênh với việc Mujahideen chủ yếu giành chiến thắng trong các cuộc giao tranh du kích nhỏ lẻ, và Liên Xô đạt được lợi thế về quân sự với các thiết giáp bọc thép như xe tăng chiến đấu chủ lực T-62 hoặc trực thăng hạm Mil Mi-24 thường được người phương Tây biết đến như Hind-D. Việc sử dụng vũ khí trang bị tiên tiến của Liên Xô trong cuộc xung đột là một phần lý do Mỹ quyết định tham gia sâu hơn vào cuộc chiến. Trong những tuần đầu tiên của cuộc chiến, Hoa Kỳ chỉ hỗ trợ quân sự rất hạn chế cho Mujahideen và lên án cuộc xung đột của Liên Xô thông qua những lời hùng biện với những tuyên bố như Học thuyết Carter tháng 1 năm 1980, trong đó Tổng thống Jimmy Cater tuyên bố “Hãy để lập trường của chúng tôi là hoàn toàn rõ ràng: Một nỗ lực của bất kỳ thế lực bên ngoài nào nhằm giành quyền kiểm soát khu vực Vịnh Ba Tư sẽ được coi là một cuộc tấn công vào các lợi ích quan trọng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và một cuộc tấn công như vậy sẽ bị đẩy lùi bằng bất kỳ phương tiện nào cần thiết, bao gồm cả lực lượng quân sự ”. Kế hoạch viện trợ quân sự hạn chế được đề cập là một kế hoạch do CIA soạn thảo, được gọi là “Chiến dịch Lốc xoáy”. Hoa Kỳ sẽ chi hàng trăm triệu đô la đóng thuế của người dân Hoa Kỳ để huấn luyện và trang bị cho các chiến binh Hồi giáo ở Afghanistan, có một số bay đến Virginia để được huấn luyện về phá hoại và gián điệp. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, sự hỗ trợ này trong nửa đầu của cuộc chiến chỉ đến mức này, vì Liên Xô vẫn có ưu thế trên không so với các máy bay chiến đấu của Afghanistan. Ngoài ra, Mỹ cũng không cung cấp cho người Afghanistan bất kỳ loại vũ khí nào do Mỹ chế tạo mà chỉ cung cấp các loại vũ khí không phải của Mỹ như súng trường Kalashnikov và RPG-7 do Trung Quốc cung cấp. Những vũ khí này phải được phân phối bởi các nhân viên tình báo Pakistan để che đậy sự can dự của Hoa Kỳ càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, vào năm 1986, Hoa Kỳ quyết định bắt đầu cung cấp nhiều vũ khí tiên tiến hơn của Mỹ cho Mujahedeen, chủ yếu là FIM-92 Stinger. Việc thúc đẩy nhiều vũ khí tiên tiến hơn này đã được các nhà vận động hành lang từ tổ chức bảo thủ Free the Eagle và các thành viên của bộ quốc phòng, đáng chú ý nhất là Michael Pillsbury, ủng hộ.
Như đã nêu trước đó, con đường duy nhất mà Hoa Kỳ có thể cung cấp cho các chiến binh Mujahideen là thông qua Pakistan. Tổng thống Zia đã do dự khi đưa vũ khí do Mỹ sản xuất vào cuộc xung đột vì sợ rằng Liên Xô sẽ trả đũa. Charlie Wilson, người sau nhiều năm bảo vệ Zi ở Hoa Kỳ đã dập tắt nỗi sợ hãi của ông ta. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1989, sau nhiều năm thất bại quân sự và những rắc rối trong nước do các chương trình như Glasnost và Perestroika gây ra, những người lính Xô Viết cuối cùng đã rút khỏi Kabul. Cuộc thánh chiến do Mujahideen chiến đấu đã chiến thắng. Năm 1991; vào năm Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết tan rã, Hoa Kỳ coi cuộc chiến Afghanistan-Liên Xô là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử hoạt động chuyển đổi của quốc gia này. Họ đã thành công trong việc làm bẽ mặt Liên Xô, gieo hạt giống cho sự hủy diệt của nó, bảo vệ quyền bá chủ của Mỹ ở Trung Đông, và đã làm như vậy với các chiến binh du kích hầu hết chưa được đào tạo. Tuy nhiên, vào năm 1991, ít ai có thể thấy rằng việc chi hàng triệu đô la cho cuộc xung đột nước ngoài là sai lầm đến mức nào. Bởi kẻ thù mới trỗi dậy từ tro tàn của “Đế chế Xô Viết” có thể được coi là nguy hiểm hơn nhiều so với những người Liên Xô trước đây. Sau khi Chiến tranh Xô Viết-Afghanistan kết thúc, Afghanistan đang trong tình trạng hỗn loạn. Năm 1992, chính phủ cộng sản Afghanistan cuối cùng đã sụp đổ. Trong bối cảnh không có bất kỳ chính quyền trung ương quyền lực nào, Afghanistan đã trở thành những thái ấp nhỏ bé do các chiến binh Mujahideen trước đây kiểm soát, những người mà nhờ Mỹ và Pakistan đã có rất nhiều vũ khí và đạn dược để kiểm soát các vương quốc mới của họ. Các thái ấp này cai trị lãnh thổ của họ bằng luật pháp và thuế của riêng họ. David B. Edwards; một giáo sư Khoa học Xã hội tại Đại học Williams ở Massachusetts chuyên nghiên cứu về vùng Cận Đông, đã ở Afghanistan vào thời điểm đó và đã mô tả cách bạn không thể lái xe 10-20 dặm mà không bị dừng lại để trả “thuế” cho lãnh chúa địa phương. Ông cũng mô tả cách những thái ấp này bắt cóc trẻ em trai và trẻ em gái để làm nô lệ. Vì vậy, trong sự hỗn loạn này gây ra bởi sự rút lui của Tập đoàn quân số 40 của Liên Xô, một phe mới của các cựu Mujahideen đã xuất hiện và bị tước quyền (Trans: từ gốc là disenfranchised, mình ko chắc nên dịch thế nào) bởi sự hỗn loạn này trên đất mẹ của họ. Nhóm này bắt đầu chiến đấu chống lại những thái ấp này để cố gắng khôi phục “hòa bình” ở Afghanistan. Nhóm thanh niên này nhận được sự ủng hộ của những người đồng hương do họ tìm kiếm một quê hương ổn định và hòa bình. Nhóm này là Taliban có nghĩa là sinh viên trong tiếng Ả Rập. Năm 1995, Taliban cuối cùng cũng nắm chính quyền và bắt đầu thực hiện các chính sách Hồi giáo cực đoan. Điều này một phần được truyền cảm hứng bởi ảnh hưởng rộng lớn của Wahhabi xâm nhập vào đất nước trong thời kỳ chiến tranh của Liên Xô thông qua số lượng lớn viện trợ nước ngoài và các tình nguyện viên Mujahdieen đến từ Ả Rập Xê Út và các quốc gia vùng Vịnh. Đạo Hồi thuần túy này nhanh chóng không được dân chúng ưa chuộng. Những chính sách theo chủ nghĩa thuần túy này đã cấm hầu như tất cả các quyền của phụ nữ đã đạt được dưới chế độ cộng sản, buộc các dân tộc không thuộc đạo Hồi phải đổi tên, ép buộc thói quen chải chuốt và cấm một số cuốn sách, v.v.
Sau vụ 11/9, Mỹ cuối cùng đã phải “dọn dẹp” ở Afghanistan. Nhưng khi làm như vậy, đã mắc phải nhiều sai lầm tương tự như Liên Xô. Chẳng hạn như dựa vào quân đội Afghanistan địa phương để có thể tự mình xử lý hầu hết các hoạt động trực tiếp. Cuối cùng, khi rút khỏi Afghanistan, Mỹ đã mắc sai lầm khi tạo ra sự mất cân bằng quyền lực. Giống như những gì đã xảy ra sau khi Liên Xô rút lui.
>u/SuperKamiGuru1994 (1.0k points – x1 silver – x1 helpful)
Tôi chủ yếu trích dẫn một bài báo tôi đã viết nhiều năm trước đây. Bài báo ban đầu tôi viết là về sự lan rộng của các phong trào thánh chiến ở Trung Đông và nguồn gốc của chúng trong Chiến tranh Afghanistan của Liên Xô. Đây là nguồn gốc của tôi từ bài báo đó.
Kraszkiewicz, Nolan. “Operation Cyclone (1979-1989): A Brief Analysis of the U.S. Involvement in the Soviet-Afghan War.” Academia.edu. University of Oklahoma, 01 Oct. 2012. Web. 24 Apr. 2016.
Hartman, Andrew. 2002. “’the Red Template’: US Policy in Soviet-occupied Afghanistan”. Third World Quarterly 23 (3). Taylor & Francis, Ltd., Third World Quarterly: 467–89. http://www.jstor.org/stable/3993537.
Hughes, Geraint. 2008. “The Soviet-Afghan War, 1978-1989: An Overview.” Defence Studies 8, no. 3: 326-350. E-Journals, EBSCOhost (accessed April 23, 2016).
Akhtar, Nasreen. 2008. “PAKISTAN, AFGHANISTAN, AND THE TALIBAN.” International Journal On World Peace 25, no. 4: 49-73. Sociological Collection, EBSCOhost (accessed April 23, 2016).
Dibb, Paul. 2010. “The Soviet experience in Afghanistan: lessons to be learned?.” Australian Journal Of International Affairs 64, no. 5: 495-509. E-Journals, EBSCOhost (accessed April 22, 2016).
Crile, George. Charlie Wilson’s War: The Extraordinary Story of the Largest Covert Operation in History. New York: Atlantic Monthly Press, 2003.
David B. Edwards.” History and Current Issues for the Classroom. Accessed April 23, 2016. http://www.choices.edu/res…/scholarsonline/edwards/de8.php.
“Jimmy Carter: The State of the Union Address Delivered Before a Joint Session of the Congress.” Jimmy Carter: The State of the Union Address Delivered Before a Joint Session of the Congress. Accessed April 23, 2016. http://www.presidency.ucsb.edu/ws/?pid=33079.
>u/Suedie (536 points)
“Sau vụ 11/9, Mỹ cuối cùng đã phải “dọn dẹp” ở Afghanistan.”
Tôi nghĩ rằng một chi tiết quan trọng là khi Hoa Kỳ xâm lược vào năm 2001, chính phủ mới được thành lập ở Afghanistan hầu hết đều được tạo thành từ các cựu lãnh đạo Mujahedin, chính là nhóm lãnh chúa mà Taliban đã lật đổ / chiến đấu chống lại trước đó. Tôi nghĩ điều đó quan trọng vì cuộc nội chiến Afghanistan vào những năm 90 giữa những người Mujahedin đã khiến họ không được ưa chuộng và việc khôi phục quyền thống trị của Mujahedin đối với Afghanistan đã không làm cho sự chiếm đóng của Hoa Kỳ trở nên phổ biến, điều mà tôi tin rằng ít nhất cũng đưa ra lời giải thích một phần tại sao lại có sự trỗi dậy của Taliban .
“Saur là từ tiếng Ba Tư để chỉ tháng cho tháng Tư”
Đính chính một tí. Saur là từ tiếng Ả Rập để chỉ chòm sao Kim Ngưu và là tháng thứ hai trong lịch dương của Afghanistan. Nó không chính xác là tháng Tư nhưng gần gần với tuần cuối cùng của tháng Tư và ba tuần đầu tiên của tháng Năm.
>u/JigglyLawnmower (77 points)
Câu trả lời chi tiết tuyệt vời. Nhưng dường như có một khoảng cách đáng kể trong tóm tắt của bạn giữa 95 và 11/9 phải không? Tại sao Taliban lại có động cơ tấn công Mỹ? Liên minh phương bắc hình thành khi nào?
>>u/marbanasin (68 points)
Công bằng mà nói – Taliban không tấn công Mỹ. Thay vào đó, họ nuôi dưỡng Al-Queda (và cụ thể là Osama Bin Laden), kẻ có khả năng lên kế hoạch cho vụ tấn công 11/9 trong tình trạng an toàn.
Một vài thông tin thêm có thể giúp lấp đầy khoảng trống.
Osama Bin Laden xuất thân trong một gia đình xây dựng giàu có ở Ả Rập Xê Út. Anh ta chủ yếu có quan điểm Hồi giáo và chống phương Tây khiến anh ta mâu thuẫn với gia đình (sự giàu có ở Ả Rập Xê Út phần lớn gắn liền với các mối quan hệ với phương Tây). Tuy nhiên, anh vẫn có một khoản thu nhập rất hậu hĩnh dựa trên vị trí của mình trong gia đình.
Với cuộc thánh chiến chống lại một kẻ áp bức phương Tây / vô thần ở Afghanistan trong những năm 80, Bin Laden đã đến khu vực này để tham gia và chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của Liên Xô. Sự giàu có của anh ta đương nhiên là một tài sản đối với Mujahideen và cuối cùng anh ta đã làm việc theo cách của mình để trở nên nổi bật trong bối cảnh này.
Bình luận phía trên đề cập đến việc Mujahideen ra khỏi các khu vực phía đông của đất nước (biên giới với Pakistan) và cũng có sự tham gia của Pakistan để cung cấp vũ khí và nguồn lực cho các chiến binh này (một số do chính phủ Mỹ cung cấp). Điều rất quan trọng cần lưu ý là:
Có những phe phái khác với những nhà lãnh đạo khá nổi bật. Một số trong số đó mang tính thế tục hơn nhiều (bạn đề cập đến liên minh phương Bắc – từ hồi ức của tôi, nhóm này ít theo đạo Hồi hơn các nhóm từ Kandahar ở phía Đông Nam).
Lực lượng tình báo Pakistan (những người được giao phần lớn trong việc duy trì liên lạc ở Afghanistan và phân tán viện trợ / vũ khí) là thế lực chính trị với một chương trình nghị sự Hồi giáo của riêng họ trong khu vực. Vì vậy, hãy nói rằng họ đã thiên vị rất nhiều nguồn cung cấp vật chất cho các đồng minh bộ lạc được tổ chức chặt chẽ hơn và liên kết hơn về mặt tư tưởng với họ ở phía Đông Nam so với các đồng minh ở khu vực phía bắc hoặc phía tây. Điều này giúp các chiến binh bộ lạc Hồi giáo được chuẩn bị tốt hơn nhiều so với các phe phái khác trong thời kỳ hậu Xô Viết.
Trong khi đó Bin Laden đương nhiên cũng liên kết về mặt tư tưởng hơn với các nhóm Hồi giáo và tài trợ các cơ sở đào tạo cho họ.
Vì vậy, sau khi các nhóm Hồi giáo liên kết với Taliban và cuối cùng thống nhất đất nước dưới sự cai trị của chúng – Bin Laden hẳn là một người được biết đến và có tư tưởng phù hợp với chúng.
Tuy nhiên, Bin Laden đã chuyển đến sống ở châu Phi và tập trung vào cuộc chiến với phương Tây từ một ngôi nhà ở Sudan vào đầu những năm 90. Từ đây, ông ta đã có thể tham gia vào cuộc xung đột ở Somalia mà Mỹ đã gửi binh lính tham gia như một phần của sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Cuối cùng, ông ta cũng thực hiện các vụ đánh bom các đại sứ quán Mỹ ở châu Phi xảy ra vào cuối những năm 90, cũng như có ràng buộc với những kẻ đã đánh bom trung tâm thương mại thế giới ban đầu vào đầu những năm 90.
Cuối cùng ông ta bị trục xuất khỏi Sudan và trước đó anh ta đã bị trục xuất / cấm sống ở Ả Rập Xê Út. Vì vậy, trở lại Afghanistan là một động thái hợp lý đối với ông ấy. Về cơ bản, ông ta có thể sống ở một khu vực hẻo lánh của thế giới mà phương tây có rất ít tiếp cận mặt đất (do địa hình và chế độ phụ thống trị) và ông ta có một chính phủ thân thiện và là người hâm mộ những gì ông ta đang làm hơn là tích cực hành động chống lại ông ta.
Cơ bản – Taliban không tấn công Mỹ. Tuy nhiên, mối quan hệ trước đây với Bin Laden, cộng với hoạt động khủng bố trước đó của Bin Laden trong suốt những năm 90 đã khiến ông ta bị tẩy chay khỏi các cơ sở hoạt động tiềm năng khác của mình, khiến ông ta quay trở lại Afghanistan vào cuối những năm 90 và cuối cùng lên kế hoạch cho vụ tấn công 11/9 trong an toàn tại một quốc gia thân thiện về mặt ý thức hệ.
Nguồn chính cho điều này là Ghost Wars của Steve Coll. Đây là một cuốn sách hấp dẫn và có liên quan phần lớn đối với chủ đề ban đầu này – về cơ bản vẽ nên bức tranh về Afghanistan từ cuối những năm 70 cho đến vụ tấn công 11/9 – tập trung chủ yếu vào chính sách của Mỹ trong giai đoạn này và nó đã tác động ồ ạt đến kết quả như thế nào.
