TẠI SAO NHẬT BẢN KHÔNG TẤN CÔNG LIÊN XÔ?

(quan điểm của một chuyên gia Nga)

Sau một loạt các cuộc đụng độ với Liên Xô trong những năm 1930, Tokyo đã ngần ngại không muốn biến mối quan hệ vốn đã căng thẳng với Moscow thành một cuộc xung đột quân sự công khai, mặc dù trên thực tế Liên Xô là đối thủ tự nhiên của Nhật Bản trong cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Trung Quốc, Bán đảo Triều Tiên, và Mông Cổ.

Vào ngày 13 tháng 4 năm 1941, vài tháng trước cuộc tấn công của Đức QX vào Liên Xô, một sự kiện rất thú vị đã diễn ra tại Mátxcơva: Lễ ký Hiệp ước Trung lập giữa Liên Xô và Nhật Bản. Vào thời điểm đó, mọi người – kể cả các chính trị gia Nhật Bản – đều đã hiểu rõ mọi thứ đang hướng tới chiến tranh giữa Đức và Liên Xô. Nhưng tại sao người Nhật lại ký hiệp ước với Liên Xô? 

Có ý kiến cho rằng Tokyo rất không hài lòng với hiệp ước không xâm lược mà Đức QX đã ký vào đỉnh điểm của cuộc xung đột Xô-Nhật trên sông Khalkhin Gol. Họ nói rằng những người Nhật đầy thù hận đã quyết định trả thù Berlin bằng cách ký Hiệp ước Trung lập vào trước chiến tranh Xô-Đức. 

Tuy nhiên, trong nền chính trị lớn, những bất bình kiểu này khó có thể đóng vai trò quyết định. Hành động của Nhật xuất phát từ những cân nhắc hoàn toàn khác.

Không giống như Quốc trưởng của Đệ tam Đế chế và những người tùy tùng cuồng tín của ông ta, giới lãnh đạo Nhật Bản lý luận hợp lý hơn nhiều. Nhật Bản đánh giá một cách tỉnh táo về tiềm năng khổng lồ do lãnh thổ rộng lớn và dân số đông đảo của Liên Xô, và hiểu rõ rằng Đức QX sẽ không thắng trong cuộc chiến chống lại Liên Xô. Do đó, giới lãnh đạo Nhật Bản không muốn nhúng tay vào cuộc phiêu lưu của Đức QX.

Lợi thế của Nhật Bản ở Thái Bình Dương phần lớn là do các hoạt động của hạm đội, nhưng trong trường hợp xảy ra chiến tranh với Liên Xô, chúng sẽ nhanh chóng bị giảm xuống con số không – quân đội Nhật Bản sẽ phải chiến đấu trên vùng rộng lớn của Đông Siberia và Viễn Đông, nơi mà các samurai chắc chắn sẽ bị mắc kẹt thậm chí còn khổ hơn những người Đức ở phía tây nước Nga. Tokyo hiểu điều này và không muốn mạo hiểm.

Thứ hai, các sự kiện ở Đông Á và Đông Nam Á được Nhật Bản quan tâm nhiều hơn. Đất nước Mặt trời mọc tự coi mình là bá chủ của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời bắt Trung Quốc phụ thuộc vào ảnh hưởng của Nhật Bản.

Nhưng ở Trung Quốc, Nhật Bản nhanh chóng nhận ra sự khó khăn khi tiến hành chiến tranh trên những khu vực rộng lớn và chống lại một quốc gia lớn hơn Nhật Bản về dân số nhiều lần. Rất nhanh chóng, bộ chỉ huy Nhật Bản cảm thấy thiếu nhân lực để có thể đồng thời tiến hành các cuộc tấn công theo nhiều hướng khác nhau và kiểm soát các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Ngoài ra, các vấn đề lớn xuất hiện với việc cung cấp nhiên liệu, đạn dược và lương thực cho quân đội Nhật Bản. Quân đội Nhật Bản đã không thể chặn tất cả các tuyến đường mà Liên Xô, Mỹ và Anh viện trợ quân sự cho Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, phát động một cuộc chiến tranh chống lại Liên Xô, nước tiếp giáp với Trung Quốc từ phía bắc và phía tây, sẽ là một bước đi tự sát đối với Nhật Bản.

Sau khi xác định sẽ không tấn công Liên Xô, Nhật Bản hướng về phía Nam, nơi có các vùng lãnh thổ rất quan trọng về kinh tế và chiến lược là Đông Nam Á và Nam Á. Nhưng trong khi sự kháng cự của các lực lượng thuộc địa Hà Lan và Pháp có thể bị áp đảo rất dễ dàng, thì người Anh tỏ ra là một đối thủ đáng nể hơn nhiều, đặc biệt là với sự giúp đỡ từ Hoa Kỳ.

Trên thực tế, đến năm 1941, chính Mỹ vẫn là lực lượng có thể cản trở việc thống trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Nhật Bản. Do đó, Nhật Bản quyết định tấn công căn cứ hải quân Pearl Harbor của Mỹ. Nói một cách chính xác, đây cũng là một bước đi tự sát, vì lực lượng của Nhật Bản và Hoa Kỳ chênh lệch nhau (như trong trường hợp Nhật Bản và Liên Xô) và vì nước Anh và nhiều thuộc địa của Anh đã chiến đấu bên cạnh Hoa Kỳ.

Vì vậy, Nhật Bản đã tự đào mồ chôn mình bằng cách tham chiến với Hoa Kỳ, một đối thủ rõ ràng là mạnh hơn.

Cuộc chiến của Nhật Bản chống lại Hoa Kỳ và Anh có lợi cho Liên Xô. Lúc này quân Nhật chắc chắn sa lầy vào giao tranh ở các đảo Thái Bình Dương và Đông Nam Á. Chỉ với đạo quân Quan Đông, Nhật Bản không thể gây hấn với Liên Xô. Trong khi đó, Đức QX tiếp tục hy vọng rằng Nhật Bản vẫn sẽ hỗ trợ Đức, Ý và tấn công vùng Viễn Đông của Liên Xô. Có thể do quan điểm đó mà Đức QX tuyên chiến với Hoa Kỳ. Nhưng Nhật Bản đã không tấn công Liên Xô và thậm chí không chính thức tuyên chiến.

Tất nhiên, Nhật Bản đã có cơ hội để bắt đầu cuộc chiến chống lại Liên Xô. Vào mùa thu năm 1941, khi Hồng quân bảo vệ Moscow với nỗ lực lớn nhất, Nhật Bản có thể mở cuộc tấn công vào Viễn Đông, ngay lập tức đặt Liên Xô vào tình thế vô cùng khó khăn. Nhưng Nhật Bản không dám thực hiện một cuộc phiêu lưu mạo hiểm như vậy. Lý do thật dễ hiểu: nếu tấn công Liên Xô vào mùa thu năm 1941 hoặc đầu năm 1942, Nhật Bản sẽ rơi vào tình thế chiến tranh trên ba mặt trận – chống lại Anh-Mỹ ở Thái Bình Dương, chống lại Trung Quốc và chống lại Liên Xô. Nó chỉ ra rằng Nhật Bản sẽ rơi vào một tình huống khó khăn hơn, thậm chí so với nước Đức QX. Ban lãnh đạo Nhật Bản không thể đồng ý với điều này.

Nhưng nếu cuộc tấn công xảy ra, Nhật Bản vẫn không có cơ hội chống chọi với Liên Xô. Các lực lượng chính Nhật Bản, bắt đầu từ mùa đông năm 1941, đã tham gia vào các hoạt động quân sự ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á. Ngoài ra, lực lượng khổng lồ của Nhật Bản tiếp tục chiến đấu ở Trung Quốc, nơi phong trào du kích ngày càng bùng nổ. 

Chỉ còn lại Đạo quân Quan Đông nổi tiếng gồm 15 sư đoàn với tổng sức mạnh khoảng 700.000 quân đóng tại Mãn Châu và Triều Tiên. Ngoài ra, lực lượng vũ trang của các quốc gia bù nhìn Mãn Châu Quốc và Mông Cương đều nằm dưới sự kiểm soát của bộ chỉ huy Nhật Bản, nhưng họ khó có thể được coi là đối thủ nặng ký.

Đạo quân Quan Đông được biên chế và cung cấp trên cơ sở nhân lực còn sót lại sau khi biên chế vào các đơn vị khác, trình độ huấn luyện kém và vũ khí lạc hậu. Ít nhất một nửa số quân nhân của Đạo quân Quan Đông là lính nghĩa vụ không có kinh nghiệm chiến đấu hoặc thường dân ở các nhóm tuổi lớn hơn được gọi nhập ngũ.

Về phía Liên Xô, lực lượng của họ ở Viễn Đông và Đông Siberia đến năm 1941 đã lên đến 1.100.000 người.

Ngoài ra, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ chắc chắn sẽ đứng về phía Liên Xô. Quân đội Mông Cổ, mặc dù có số lượng tương đối nhỏ, nhưng vẫn được chuẩn bị tốt và có khả năng chiến đấu kiên cường. 

Trong trường hợp Nhật Bản tấn công Liên Xô, một phong trào du kích chắc chắn sẽ phát triển ở Viễn Đông và Đông Siberia, cảnh quan và phạm vi rộng lớn của khu vực này sẽ cho phép phong trào du kích triển khai trên quy mô lớn hơn ở phía tây của đất nước.

Cuối cùng, nếu Nhật Bản tấn công thì Liên Xô sẽ hỗ trợ quân đội Trung Quốc chống lại Nhật Bản. Về việc đào tạo nhân sự và cung cấp vũ khí, Liên Xô đã có một bước tiến nhảy vọt so với thời kỳ xảy ra xung đột tại Khalkhin Gol. Tokyo cũng nhận thức rõ điều này.

Điều thú vị là kế hoạch tấn công Liên Xô vẫn được thảo luận ở Tokyo. Một trong những người ủng hộ cuộc tấn công vào Liên Xô, kỳ lạ thay, hóa ra lại là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Đế chế, Yosuke Matsuoka, người đã ký Hiệp ước Trung lập vào năm 1941. Ông ta tin rằng Nhật Bản không cần thiết phải tuân thủ các thỏa thuận mà chỉ cần quyết định dựa trên các tình huống cụ thể.

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Bộ tư lệnh Nhật Bản thậm chí còn tăng gấp đôi quy mô Đạo quân Quan Đông, bằng cách huy động quân dự bị, nhưng cuộc tấn công vào Liên Xô đã không bao giờ xảy ra.

Ảnh: Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Yosuke Matsuoka đang ký vào văn kiện Hiệp ước Trung lập giữa Liên Xô và Nhật Bản, ngày 13 tháng 4 năm 1941, tại Moscow.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *