Các vương triều Đại Việt ngày xưa chưa có cơ quan chuyên trách ngoại giao, chưa có người làm ngoại giao chuyên nghiệp, khi cần người đi sứ hay tiếp sứ thì vua, chúa cử trong số các quan lại triều đình học cao hiểu rộng đóng vai trò này
Những người đi sứ ngày xưa đều đã thuộc lòng những câu trong sách Luận ngữ: “Sứ ư tứ phương, bất nhục quân mệnh, khả vi sĩ hỉ”. Nghĩa là: Kẻ sĩ đi sứ bốn phương, không làm nhục mệnh vua, được như thế mới gọi là kẻ sĩ.
Trong việc bang giao ngày xưa, ngoài những việc về lễ nghi như triều cống theo lệ, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên tử lên ngôi hay chia buồn, thì công việc ngoại giao quan trọng nhất của các sứ thần là giải quyết những tranh chấp về đất đai, đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ không để cho các biên thần của Thiên triều lấn chiếm vùng biên giới của nước ta, làm những việc đã rồi, hoặc xin hoãn binh hoặc giải quyết những hậu quả chiến tranh giữa hai nước, duy trì hòa bình là những việc lớn liên quan đến an nguy của đất nước.
Những nhà ngoại giao Đại Việt chủ yếu là tiếp xúc với các vua quan triều đình phong kiến Trung Quốc. Họ luôn thể hiện là đại diện cho một quốc gia văn hiến luôn chứng tỏ cho Thiên triều biết nước ta cũng là một nước văn hiến không kém gì thượng quốc.
Ngoài việc phô trương sức mạnh quân sự để mang tín răn đe, trên lĩnh vực văn chương nghệ thuật thì cuộc đấu trí cũng thường diễn ra trong những lần đối đáp với các vua quan Trung Quốc bằng các màn đối đáp, thể hiện tài trí và khí phách hào hùng của dân Đại Việt.
Xin nêu một vài ví dụ tiêu biểu
THỜI TIỀN LÊ
LÊ ĐẠI HÀNH (chữ Hán: 黎大行; năm 941 – ) là vị Hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vì nước Đại Cồ Việt trong 24 năm.
Năm 979, vua Đinh Tiên Hoàng và người con Đinh Liễn, bị đầu đôc, người con thứ tên Đinh Toàn nối ngôi lúc 6 tuổi, Lê Đại Hoàng làm Nhiếp chính, xưng là Phó vương, nắm đại quyền triều đình.Ông luôn thể hiện một nền ngoại giao cứng rắn trước nhà Tống.
.PHÁ TỐNG. Mùa hạ năm 981, Nhà Tống lấy cớ Lê Đại Hành chuyên quyền liền phát binh xâm lược Đại Cồ Việt, sai chuyển vận sứ là Hầu Nhân Bảo cùng các đạo tiền quân tiến sâu vào nước ta. Sách Việt sử tiêu án chép: (Vua Lê Hoàn) “sai người trá hàng, bắt được Nhân Bảo”. Sách An Nam chí lược cũng chép: “Lê Hoàn giả đầu hàng để dụ địch, Nhân – Bữu bèn trúng kế mà bị hại.”
Trần Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua Lê Hoàn thừa thắng truy kích. Quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng.
Lê Hoàn bắt sống 2 đại tướng giặc là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đưa về Hoa Lư.
Được tin thua trận vua Tống xuống chiếu rút quân về, sai sứ quở trách bọn Giả Thực, Ninh châu thứ sử Lưu Trừng (Trừng sợ tội ốm chết) , Cung phụng Quan Các môn Chi hậu Vương Soạn bị giết ở Ung Châu, Lan Châu, Đoàn luyện sứ là Tôn Toàn Hưng cũng bị giết bêu ở chợ.
Đến tháng 10 âm lịch năm 986, do vua Tống thúc dục, Lê Hoàn mới trao trả các tướng Tống bị bắt là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân về nước, sau 5 năm bị giam cầm ờ nước ta.
BÌNH CHIÊM. Khi biên giới phía Bắc tạm yên, năm 982 vua Lê cho sứ giả đến Chiêm Thành tỏ ý hòa hảo, nhưng vua Chiêm Thành là Tỳ Mi Thuế liên kết với nhà Tống lại bắt giữ sứ giả và khiêu chiến với Đại Cồ Việt.
Vua Lê Đại Hành lập tức tiến binh sang Chiêm Thành, chiến trận diễn ra ở vùng Bình Trị Thiên ngày nay. Vua Chiêm bị chém ngay giữa trận tiền, quân Chiêm thua to, quân Việt đánh chiếm được kinh thành. Từ đó Chiêm Thành quy thuận Đại Cồ Việt .
NGOẠI GIAO VỚI NHÀ TỐNG. Năm 990, nhà Tống sai người sang sách phong, Lê Hoàn sai người đem thủy quân đi đón lòng vòng quá nửa tháng mới đến kinh đô Hoa Lư. Nơi sứ quán, chỉ là gian nhà lợp tranh đề chữ “Mao kính dịch” nghĩa là trạm qua đường lợp cỏ tranh.
Đến khi Lê Hoàn ra đón ngoài thành thì quân dung lộng lẫy, cờ đàn bay khắp nơi. Vua cùng với sứ giả giong cương ngựa cùng đi. Kinh đô Hoa Lư trong cảnh tưng bừng khác lạ: dưới sông, chiến thuyền tinh kỳ san sát; bên các sườn núi, quân lính võ phục chỉnh tề, gươm giáo sánh lòa; trên các cánh đồng, hàng trăm hàng ngàn trâu bò rong ruổi đen đặc, bụi bay mù mịt. Sứ Tống không thể không thấy sự hùng mạnh, giàu mạnh của nước Việt.
Đến cửa điện Minh Đức, Lê Hoàn chỉ nhận tờ chế rồi đặt trên điện chứ không lạy, nói khéo rằng do đánh nhau với quân Man nên bị ngã ngựa, đau chân.
Theo Trần Quốc Vượng trong Những mẩu chuyện lịch sử để tiếp tục thị uy, Lê Hoàn bố trí cho các sứ giả ở một nhà riêng, cứ cách vài ngày lại sai người mang con trăn dài cả chục mét tới và nói với các sứ giả Tống rằng “nếu sứ giả muốn ăn sẽ làm thịt thiết đãi”. Lê Hoàn còn sai người trói cả hai con hổ mang đến chỗ ở của sứ Tống. Các sứ giả phương Bắc đã kinh hồn bạt vía vì những thú dữ của nước Việt và từ chối nhận những quà biếu này.
Hôm sau lại bày trò vui tiếp sứ giả, nhân đấy nói sứ giả: “đường sá xa xôi, núi sông hiểm trở, sau này nếu có thư tín gì về việc nước, thì nên giao cho đầu biên giới, khỏi phiền sứ quân đến đây”. Sứ thần về tâu lại, vua Tống nghe theo.
GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG, THÁCH THỨC VUA TỐNG. Năm 995, bọn người Tống xâm phạm bờ biển nước ta Lê Hoàn cho quân vây đánh rồi truy kích tận vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu ( thuộc nước Tống gần vịnh Bắc bộ) thu hết lương thảo, rồi rút quân.. Mùa hạ cùng năm, vua Lê Hoàn lại dẫn 5.000 binh Tô Châu vào đánh phá Lộc-Châu, thuộc huyện của Ung Châu, giao chiến với quân Tống do Tuần kiểm Dương Văn Kiệt chỉ huy. Vua Tống sai sứ giả đến quở trách, vua Lê Đại Hành nói thẳng thừng rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi đâu.” ( nguồn trithucvn.org. )
Trong buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc, những hành động phô diễn với sứ giả phương Bắc và trực tiếp khẳng định sức mạnh, vị thế và danh dự của Đại Cồ Việt với nhà Tống là một điều hiếm gặp trong suốt quá trình bang giao với nước lớn.
Theo Phan Huy Chú nhận định trong Lịch triều hiến chương loại chí: Lê Đại Hành là một vị vua mà “Sứ thần Trung Quốc phải tôn sùng, tù trưởng sơn động hết chuyện làm phản..”.
THỜI TRẦN
Theo các nhà nghiên cứu thì, đạo quân Mông Cổ đi chinh chiến xa thường đưa theo phu phen, ngựa đi kèm để tải lương, khuân vác. Người Mông Cổ có rất nhiều ngựa, cho nên ngựa theo quân thay phiên nhau vận tải và chiến đấu mà không bị kiệt sức. Ngựa cũng là nguồn lương thực dự trữ của quân Mông Cổ khi cần. Biên chế như vậy ngoài việc tiết kiệm nhân lực tối đa, còn giúp quân Mông Cổ hành quân nhanh với tốt độ kinh hoàng. Quân Mông Cổ đi đến đâu sẽ cướp lương thực của đối phương mà ăn, vừa làm kiệt quệ đối thủ vừa tăng thêm tính cơ động của mình.
Đến biên giới nước ta, tướng Nguyên Mông sai sứ giả hạ chiếu thư buộc vua ta phải đầu hàng. Cũng phải hiểu rằng sứ giả quân Mông không hề cư xử theo nghi lễ ngoại giao mà chỉ là những kẻ khiêu chiến, coi thường nước khác nên cần bị trừng trị .
Vua Trần Thái Tông vốn tự tin về sức mạnh của quân dân Đại Việt, lại căm tức sự hống hách của sứ giả Mông Cổ, liền hạ lệnh tống giam bọn sứ giả nhà Nguyên. Ngột Lương Hợp Thai không thấy sứ giả quay về, tiếp tục tiến quân vào lãnh thổ nước ta. Đến trại Quy Hóa, quân Mông Cổ lại dừng, liên tiếp phái thêm hai sứ giả nữa đều bị vua Trần “túm” cho vào nhà lao.
Quân Nguyên Mông tiến vào Việt nam mắc phải kế vườn không thành trống, không có lương ăn. Đóng quân ở Thăng Long, lương ăn năm bảy ngày đã cạn mà không tìm được quân Trần ở đâu để quyết đấu. Cùng đường, Ngột Lương Hợp Thai phải từ bỏ mọi mưu đồ quân sự, phải vận dụng ngoại giao cầu hòa, để được đem quân an toàn trở về nước. Triều đình nhà Trần không chấp nhận lời cầu hòa của giặc, cho trói sứ đuổi về trại giặc. Quân ta tổ chức một trận tập kích lớn, đánh vào toàn bộ quân giặc. Giặc không chống đỡ nổi, thiệt hại nặng, phải dồn toàn lực đem tàn quân chạy về nước. Như vậy, trước và sau cuộc kháng Nguyên Mông lần thứ nhất, ta đã 4 lần trói sứ giả giặc, điều mà chưa nước nào khi ấy dám làm..
SỨ MẠNG NGOẠI GIAO VỚI NƯỚC LỚN CỦA NHÀ TRẦN .
ĐINH CỦNG VIÊN (?-1294) người Đông Sơn, Thanh Hoá, học rộng và có tài văn chương. Dưới ba triều vua Trần (Thánh Tông 1258-1279, Nhân Tông 1279-1293, Anh Tông 1293-1314), ông đều được tin cậy và giao những việc quan trọng. Năm 1270 ông cùng Lê Đà sang sứ Nguyên bàn về việc cương giới. Năm 1282 được trao chức Hàn lâm viện học sĩ phụng chỉ. Hai năm sau, trong khi quân Nguyên ồ ạt đánh sang nước ta, Đinh Củng Viên được giao công việc ở Nội mật viện. Kháng chiến thành công ông lại xin về Viện hàn lâm. Sau nhiều năm giữ việc từ lệnh, ông được thăng chức Thái tử thiếu bảo, tước Quan nội hầu.
Đinh Củng Viên có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc. Trong một lần đi sứ nhà Nguyên, vua Nguyên hỏi: – Nhà người là sứ thần Nam man phải không? Đinh Củng Viên trả lời : – Thần là sứ thần Nam quốc chứ không phải sứ thần Nam man.
Vua Nguyên: – Quân ta đi đến đâu chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan. Nước Nam nhà người nhỏ bé không sợ ta làm cỏ hay sao?
Đinh Củng Viên : – Nước nào cũng có nhân tài và địa thế hiểm trở. Nước tôi tuy nhỏ nhưng cũng đủ sức tiếp đón đội quân của Thiên triều.
MẠC ĐĨNH CHI. Sau này, nhận lệnh vua Trần đi sứ sang nhà Nguyên. Khi đến Đại Đô (nay là Bắc Kinh, Trung Quốc), thấy Mạc Đĩnh Chi người thấp bé, nên người Nguyên tỏ ý khinh khi.
Trong buổi tiếp kiến đầu tiên người triều Nguyên đã ra câu đối:
“Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ”
Dịch nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy vừng trăng. Hàm ý: Ngoài nghĩa đen “Nhật hỏa” là lửa mặt trời, còn nghĩa bóng nước Nguyên Mông là Thiên triều đại quốc đủ sức đốt cháy nước nhỏ. “Ngọc thỏ” là mặt trăng, ví người Việt nhút nhát như thỏ.
Câu đối xưa có hai vế đối thường phải đối từ, đối ý với nhau sao cho thật chỉnh, ngoài ra còn phải đối vần “bằng” với vần “trắc” mới chuẩn văn. Vế của người đối phải “đè” được vế của người ra mới được coi là đủ trí dũng.
Phải nói là họ ra một vế câu đối khá “chát”
Tuy vậy trạng Mạc Đĩnh Chi đã ung dung đối lại :
“ Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.”
.Nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, buổi chiều tối bắn rụng mặt trời. Hàm ý là nước nhỏ cũng có thể lấy yếu đánh mạnh thắng được nước lớn. (xạ lạc kim ô – bắn rụng mặt trời .)-
Câu đối này rất hay, thể hiện được tài năng và, sự thông minh bản lĩnh của người đối đáp. Không dễ mấy ai làm được như thế.
Biết Mạc Đĩnh Chi là bậc kỳ tài vua từng nghe tiếng, nay được chứng kiến tận mắt nên rất khâm phục. Trước đình thần, vua phán:
“Mạc Đĩnh Chi là trạng nguyên Đại Việt và cũng là trạng nguyên của nhà Nguyên”. Từ đây trở đi bốn chữ “lưỡng quốc trạng nguyên” xuất hiện dành cho Mạc Đĩnh Chi.
TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH. Xưa nay sứ thần nước yếu thường khó mà tranh biện với nước lớn theo một vị thế ngang bằng. Đây là sứ mệnh khó khĂn cho người đi sứ . Họ có thể mất mạng vì tính khí thất thường hung hãn của các vua Trung Quốc, luôn cậy mình là nước lớn.
Thời nhà Trần, Thượng Hoàng Trần Nghẹ Tông cử Trạng nguyên Đào Sư Tích đi sứ Trung Quốc. Vua Minh Thái Tổ tiếp Sư Tích tại cung điện thấy ông phân tích quan hệ Minh – Việt rõ ràng uy vũ không khuất nên vô cùng thán phục; nhân lúc trò truyện với Đào Sư Tích, vua Minh mới ướm hỏi vẻ tự đắc:
– Người Mông Cổ cầm quyền ở trung nguyên đã lâu. Quần hùng khắp nơi nổi lên chỉ có ta mới đánh đuổi được họ rồi tự giữ lấy nước. Người Nam xưa nay vẫn tự hào nhiều lần chiến thắng được người Mông Cổ. Nhưng nay nếu ta đưa người Bắc (chỉ Trung Quốc) xuống đánh nước Nam (chỉ Đại Việt) thì tiên sinh dự liệu thì ai sẽ thắng?
Đào Sư Tích trả lời :
– Nước tôi là nước nhỏ, dân ít. Tuy vậy sinh ra nhiều hiền tài, lại có núi sông hiểm trở cho nên xưa nay nhất thời khi gặp kẻ định mạnh hơn thường phải chịu nhún đôi chút nhưng cuối cùng vẫn cứ thắng. Xưa các danh tướng nhà Nguyên như bọn Ô Mã Nhi, Toa Đô, Tả tướng Lý Hằng, Hữu tướng Lý Quán tung hoành khắp trung nguyên cuối cùng cũng đành chịu phơi thây ở đất Việt. Còn nếu như bệ hạ tự cho mình là hùng mạnh đem quân tiến đánh xuống phía nam thua được thế nào, là người sáng suốt chắc bệ hạ cũng có thể nhận biết được kết cục.
Nói xong Sư Tích xin phép lấy giấy mực để viết hai vế câu đối rồi đọc to cho vua Minh cùng các quan cùng nghe, đối rằng :
Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng
Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.
Sư Tích vừa dứt lời thì các quan văn võ nhà Minh ai nấy cùng cười vang khoái trá. Nhưng duy có Dương Đại học sỹ thì tỏ vẻ không vui. Vua Minh mới quay sang hỏi ý khanh thế nào? Dương Đại học sỹ tâu :
– Thưa bệ hạ, Sư Tích là danh sỹ nước Nam được cử đi sứ nên trong khi đối đáp tất là không dám khinh xuất. Theo ý thần câu trả lời của Đào Sư Tích có hàm ý “thua” – nhưng là “thua – thắng”, và ngược lại “thắng” nhưng lại là “ thắng – thua” . Đánh nhau to, cả hai cùng tổn hại. Vả lại trong hai về đối này có năm chữ thắng, năm chữ thua, Sư Tích có ý khuyên bệ hạ đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng giữ mối hoà hảo là hơn.
Vua Minh thấy quan học sỹ nói thế mới hỏi tiếp Sư Tích vẫn vẻ ngạo mạn:
– Nhà Trần đang độ suy vong, ta lại nghe nói Lê Quý Ly ( ghi chú : khi ấy Quý Ly vẫn mang họ Lê) có ý nhận mình là họ Hồ, nay y là kẻ chuyên quyền, làm cho lòng dân ly tán và vận nước suy yếu thêm. Nhân dịp này ta có hùng binh trăm vạn nếu cứ động binh lo gì lại không thắng?
Đây là câu hỏi “ ép “người vào tội chết mà trong Binh pháp gọi là “Tá đao sát nhân” ( dùng dao của người khác giết người).
Nếu Sư Tích công nhận lời vua Minh là đúng thì vô tình ông đã làm lộ bí mật quốc gia về nội tình Đại Việt. Hai nữa ông sẽ mang tội “khi quân” khi tiết lộ Hồ Quý Ly chuyên quyền trong khi Thượng Hoàng Nghệ tông cỏn sống, chắn chắn Triều Trần sẽ xử ông tội chết.
Tuy vậy Sư Tích sớm đoán được bụng vua Minh lúc này chỉ là hỏi mò và có ý dọa dẫm thôi. Vì vậy ông mới chẳng cần suy nghĩ mà trả lời ngay rằng :
– Trần thực, Hồ hư, hư hư thực thực.
Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư .
Câu đối này Sư Tích nhằm trả lời cho vua Minh khá đích đáng khiến cho ông ta phải câm lặng, còn ở trong nước vua Trần và cả Quý Ly nếu biết cũng chẳng ai bắt bẻ được.
Vua Minh vô cùng khâm phục mới sai một quan đại thần đến thăm Đào Sư Tích đang nghỉ ở nơi quán khách mang theo một phong thư viết sẵn dòng chữ: “Thượng văn vấn, hạ tri vương” để thử tài. Đào Sư Tích cười bảo: – Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu dám nhận lời khen đó.
Thấy viên đại thần có vẻ chưa hiểu, Sư Tích mới giảng giải rằng :
– Thượng văn vấn nghĩa là “thượng” – bên trên có hai chữ “văn” và “vấn”, mà “văn” là nghe, nghe là tri, tri là “nhĩ” ( 耳 ).Còn “ vấn “ là hỏi, hỏi là mồm, mồm là “khẩu” (口). Riêng ba chữ “ hạ tri vương ” thì hiểu là phía dưới có chữ vương (王). Vậy hợp lại ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thì thành chữ thánh ( 聖 ). Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà.
Sư Tích nói xong vuốt râu rồi cười nói:
– Cái trò chiết tự đố chữ này có từ lâu kể từ cuối thời Đông Hán thì đã rất thịnh hành. Ngụy vương Tào Tháo và con của y là Tào Tử kiến cùng quan đại phu là Dương Tu sau khi bàn việc nước vẫn thường thích ngồi đàm luận với nhau, ai mà chẳng biết.
Viên đại thần nhà Minh nghe xong trố mắt kinh ngạc mới về tâu lại với vua Minh. Minh Thái Tổ vô cùng cảm phục mới truyền phong cho Đào Sư Tích làm Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước). Hiện bốn chữ này còn được khắc trong lăng Trạng nguyên Đào Sư Tích ở Cổ Lễ.
Vua Minh muốn soạn thảo cuốn sách về ngành y có tên là “ Y tông tất đọc”. Sai Đào Sư Tích vào kho sách có 6 người hầu chọn sách cho ông. Sư Tích ngồi cầm sách xem qua một lượt rồi tóm tắt toàn bộ nội dung cho quan Thái y nhà Minh chép khiến ai nấy đều kinh sợ. Tuy vậy trên được về nước vua Minh e ngại Sư Tích là người tài đã sai người hạ độc ông.
THỜI THUỘC MINH. Thượng thư Hoàng Phúc được vua Minh cử sang Đại Việt để cai trị và truyền bá văn hóa Trung Hoa. Y mở trường để dạy cho các nho sinh Đại Việt. Nhân một hôm mưa bão nổi lên, nhà sập đổ, tường xiêu vẹo điêu tàn. Trước đám học trò, Hoàng Phúc đọc:
Tai chiêu phong vũ gia gia đồi hoại cựu viên tường (Hôm qua mưa gió nhà nhà sập đổ vách tường xiêu) và bắt học trò đối lại.
Học trò Lê Thúc Hiến xin đối lại:
Kim nhật càn khôn xứ xứ phát sinh tân thảo mộc (Nay đất trời quang chốn chốn mọc lên cây cỏ mới).
Hoàng Phúc nghe xong tái mặt mà không làm gì được. Còn Lê Thúc Hiến (con của cựu thần nhà Trần Lê Cảnh Tuân) sau đó đã trốn vào Lam Sơn theo Lê Lợi đánh giặc lập nhiều công lao.
THỜI HẬU LÊ
Năm 1637, vua Lê Thần Tông cử Thám Hoa Giang Văn Minh làm chánh sứ sang Trung Quốc để bàn chuyện bang giao. Khi tiếp sứ, Minh Sùng Trinh ra câu đối và bắt sứ đối lại:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng trụ đến nay rêu vẫn còn xanh).
Vua Minh nhắc đến cột đồng của Mã Viện dựng lên sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, trong buổi tiếp sứ Đại Việt là một sự lăng nhục đối với cả dân tộc. Bất chấp uy lực của Hoàng đế Thiên triều, Giang Văn Minh dõng dạc ứng khẩu đáp lại.
Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn đỏ).
Không thể bắt bẻ gì về ngôn từ, vì nó quá chỉnh, còn nội dung quá sâu sắc bởi ba lần chiến thắng ở sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo khiến kẻ thù phương Bắc phải kinh hồn bạt vía.
Vua Minh nghe xong câu đối vì mất thể diện mà đã sai người giết hại ông.
THỜI NHÀ MẠC.
Một biểu hiện nữa của chữ “Trí” của các nhà ngoại giao Đại Việt là phải biết làm thơ, làm thơ thù tiếp các quan lại địa phương ra đón, làm thơ thù phụng với các quan sứ Trung Quốc cử đến nước ta trong sứ mệnh ngoại giao.
GIÁP HẢI tự là Tiềm Phu, hiệu Tiết Trai, tục gọi là Trạng Kế. Ông quê làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang). Năm 23 tuổi, Giáp Hải đỗ Trạng nguyên Dưới triều Mạc, ông giữ chức Tuyên phủ đồng tri, thăng Lại bộ Thượng thư, kiêm Đông các đại học sĩ Nhập thị kinh diên, thăng hàm Thiếu bảo tước Sách quốc công, trông coi cả lục bộ.
. Năm Đinh Dậu, nước ta nội chiến lien miên giữa Nam Triều nhà Lê Trịnh với Bắc Triều nhà Mạc. Nhà Minh mượn cớ phò Lê diệt Mạc hòng thôn tính nước ta, sai đô đốc Cừu Loan và tướng Mao Bá Ôn đem quân hùng hổ tiến vào cửa ải biên giới . Chúng gửi chiến thư cho triều đình Mạc, bảo phải đầu hàng thì mới tránh khỏi hoạ. Kèm theo thư là một bài thơ “ Cây Bèo” rồi thách hoạ, dưới ký tên Mao Bá Ôn được phiên âm theo chữ Hán:
“Tuỳ điền trục thuỷ mạc ương châm/ Đáo xứ khan lai thực bất thâm/ Không hữu căn miêu không hữu diệp/ Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm/Đồ chi tụ sứ ninh chi tán/ Đản thức phù thời ná thức trầm/Đại để trung thiên phong khí ác/Tảo quy hồ hải tiện nan tầm./”
Bản dịch thơ:
“Mọc theo ruộng nước hóp như kim
Trôi dạt lênh đênh chẳng đứng im
Nào có gốc sâu, nào có lá
Dám sinh cành nhánh, dám sinh tim
Tụ rồi đã chắc không tan tác
Nổi đó nào hay sẽ đắm chìm
Đến lúc trời cao bùng gió dữ
Quét về hồ bể hẳn khôn tìm.”
Ý bài thơ trên Mao Bá Ông coi thường Đại Việt chỉ là lớp bèo dạt mây trôi yếu ớt, khi trời cao kia (chỉ nhà Minh) gây sóng dữ sẽ cuốn hết ra biển, hồ.
Trong khi giao tiếp, Trạng Giáp Hải đã hoạ đáp lại rằng:
Cẩm lâm mật mật bất dung châm/Đái diệp liên căn khởi kế thâm/Thường dữ bạch vân tranh thuỷ diện/ Khẳng giao hồng nhật truỵ ba tâm/ Thiên trùng lãng đả thành nan phá/Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm./ Đa thiểu ngư long tàng giá lý/ Thái công vô kế hạ câu tầm”.
Bản dịch thơ:
“Ken dầy vải gấm khó luồn kim.
Rễ lá liền nhau, động vẫn im.
Tranh với bóng mây che mặt nước.
Chẳng cho tia nắng rọi xuyên tim.
Sóng dồi muôn lớp thường không vỡ.
Gió táp ngàn cơn cũng chẳng chìm.
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn.
Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm”
Hai câu cuối là nhắn gửi nhà Minh rằng, dưới lớp bèo ấy có “cá” và cả “rồng” nữa. kể như Lã Vọng sống lại cũng chẳng làm gì được.
Lã Vọng, tức Khương Tử Nha ( 1156 TCN – 1017 TCN), là khai quốc công thần nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên còn gọi là Khương Thái Công. Ông là đại quấn sư góp phần lập nên sự nghiệp nhà Chu kéo dài hơn 800 năm được người Trung Quốc rất hâm mộ.
Trong bài thơ hoạ, thấy lời lẽ mạnh mẽ, Mao Bá Ôn và Cừu Loan bàn bạc với nhau, nhận định rằng nước Nam có thực lực, chưa thể nuốt trôi được, lặng lẽ có trật tự cho lui binh về.
Đúng là một bài thơ đánh giặc.
THỜI LÊ TRỊNH
NGOẠI GIAO KIỂU “LỄ TIỀN, BINH HẬU, BÁC ĐỒNG PHUC SAU”
Thời chúa Trịnh Tùng, Năm 1597 nhà Minh sai ủy quan Vương Kiến Lập đòi vua Lê Thế Tông trực tiếp làm lễ cống và tham gia hội khám tại ải Nam Quan với bọn quan tướng nhà Minh, một cử chí phiền nhiễu và rất hống hách.
Vua Minh có ý đồ sai quan quân dưới quyền nhân dịp này nếu thấy thuận lợi thìdùng súc mạnh hiếp đáp các tướng bên Nam rồi cướp vua Lê đưa về Trung Quốc để tìm cách can thiệp sâu vào nội tình Việt Nam. Được tin ấy, hai tướng của nhà chúa là Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu đề xuất với Trịnh Tùng đưa nhiều voi chiến và 5 vạn quân tháp tùng vua Lê Thế Tông lên biên giới tham gia hội này, và xin nếu như quân Minh gây hấn thì họ được quyền tùy cơ ứng biến ( đánh lại). Trịnh Tùng liền nghe theo.
Quả nhiên khi đến hội khám, các quan tướng nhà Minh thấy quân Nam rất uy vũ, lại có đề phòng từ trước sợ mưu đồ không thành công nên đã bỏ ý định khiêu khích ban đầu rồi cùng quân Nam tổ chức hội khám rất chu đáo, bài bản, thể hiện sự trân trọng đối với vua Lê của ta..
Trên lĩnh vực văn chương nghệ thuật thì cuộc đấu trí diễn ra trong câu đối đã thể hiện tài trí và khí phách hào hùng của dân Đại Việt. Xin nêu một vài ví dụ tiêu biểu.
Truyện Trạng Quỳnh xuất xứ từ thời Lê Trịnh có chút thô tục, tuy không có chính sử chép lại, nhưng cũng xin mạn phép đưa vào đây để hầu bạn đọc:
Trong một lần, Đoàn sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam ngồi trên chiếc thuyền xuôi về Thăng Long, nói cười hể hả. Trong lúc quá vui, viên chánh sứ đã vô ý văng ra một phát trung tiện rồi thuận miệng nói.:
Lôi động Nam bang (Sấm dậy nước Nam).
Chẳng ngờ anh lái đò người Việt thản nhiên tụt quần, vạch “chim” đái vọt vồng trên mui thuyền sứ thần, rồi đọc:
Vũ quá Bắc hải (Mưa qua biển Bắc)
Một hôm khác đoàn sứ Tàu đi dạo chơi trong thành Thăng Long. Cô Thị Điểm bày trầu thuốc để tiếp đãi khách. Thấy cô gái kinh đô rất xinh đẹp, thắt đáy lưng ong, lại ăn mặc lịch thiệp, nền nhã, một viên sứ Tàu liền đọc to một vế câu đối để trêu gẹo:
Nam bang nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh .
“Kỷ” ở đây không có nghĩa là “ta,” mình” mà là “mấy,” ”bao nhiêu”
Vế câu đối này hàm ý lố bịch, tục tĩu có thể ngầm hiểu là “An Nam bay chỉ có tấc đất ( nhỏ như l*n ) , mà chẳng biết có bao nhiêu người “cày” lên đó”.
Nghe câu đối này xong, Thị Điểm liền đáp trả:
Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất.
( Dịch ý: Bọn quan đại phu phương Bắc đều chui từ ( “đồ “ l* n ) đó mà ra).
Lưu ý :Thị Điểm dùng chữ “ Bắc quốc chư đại phu” là rất đắt, có bản nói là “đại trượng phu”. Xưa quan võ giỏi khi điểm binh thường được gọi là “chư tướng”. Quan văn chức to khi hầu vua gọi là “chư đại phu” . Chắc vì ngoại giao phải giữ thể diện nên Thị Điểm không dùng chữ “Bắc quốc đại hoàng đế” mà chỉ nói đến “ Bắc quốc chư đại phu “ thôi.
“Đòn”đủ tầm, vừa thật hay, vừa tỏ ý khinh miệt mà đanh đá đáo để!
“Ý tại ngôn ngoại”, văn chương cao diệu thường không thể nói “toạc móng heo treo móng giò” ra được, mà người ta dùng ẩn ý sâu xa để thể hiện ý mình, thế mới gọi là cao thủ!
Qua những câu chuyện kể trên ta hoàn toàn có thể tự hào tài trí Việt Nam, Và đây cũng là bài học sáng giá cho các nhà ngoại giao Việt Nam thời hiện đại trong quan hệ quốc tế.
