Xác định chánh niệm là gì và làm thế nào để tiếp cận.
Một trong những khái niệm lâm sàng tốt nhất và phổ biến nhất về chánh niệm là định nghĩa của Jon Kabat-Zinn năm 1999: ‘’Tập trung chú ý một cách cụ thể, có mục đích, trong khoảnh khắc hiện tại, không phán xét.’’
Định nghĩa này không những diễn tả được ý nghĩa của chánh niệm theo phật học cổ điển như một quan sát tỉnh táo, thanh thản, sẵn sàng tiếp thu (Analayo, 2003) mà còn gói gọn phần hướng dẫn thực hành của chánh niệm, là chú ý nhưng không đánh giá đối tượng.
Định nghĩa hay được trích lại này cung cấp ‘’bản đồ’’ cho những người mới thực hành chánh niệm hiểu chánh niệm là gì và làm sao để biết họ đang chánh niệm.
Như nhiều tác giả đã lưu ý, cách ta định nghĩa chánh niệm ảnh hưởng đến việc thực hành chánh niệm và sự truy vấn có hệ thống đã trở thành xu hướng trong vài thập kỷ qua. Các định nghĩa chánh niệm khác nhau như ‘’chú ý tập trung’’ và ‘’nhận thức mở’’ đọ sức với nhau bởi các trung tâm phật giáo nghiên cứu y tế khác nhau. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu khác lập luận rằng cô lập chánh niệm vào các bộ phận cấu thành nó là một nỗ lực phù phiếm.
Sự chú ý hẹp có phối hợp trong thực hành chánh niệm và sự bất phản ứng cởi mở để trải nghiệm đều cần thiết. Quaglia và đồng nghiệp (2016) cho rằng chú ý tập trung là bước đầu tiên trong việc thúc đẩy nhận thức về trải nghiệm tách rời bản ngã. Quá trình này cũng được gọi là ‘’phân rã’’ hay ‘’tháo gỡ’’ và có liên quan đến quy định về sự chú ý đã không được dạy trong hầu hết các xã hội nên cần được thực hiện để được mài giũa.
Hấp dẫn nhất, các truyền thống phật giáo cổ điển không có một định nghĩa cụ thể, nhất trí về chánh niệm. Có lẽ họ đã đánh bại xã hội phương Tây trong việc khẳng định rằng để hưởng lợi từ những giáo lý chánh niệm thì không cần có sự nhất trí chung.
Tuy nhiên trong xã hội phương Tây vận hành một thực hành có tính xây dựng và tính-đời như chánh niệm là cần thiết để theo dõi tiến trình, kiểm tra các cơ chế thay đổi và khám phá bất kỳ lợi ích lâm sàng tiềm năng nào. Nói một cách đơn giản, ý định và mục đích về kết quả thực hành chánh niệm của một người phải do bác sĩ lâm sàng hoặc nhà nghiên cứu về lập trường lý thuyết thông báo.
Những lập trường lý thuyết khác nhau này có thể tiếp tục cùng tồn tại song song, vì những giải thích về chánh niệm khác nhau do mỗi người nắm bắt một phần khác nhau của tấm thảm phức tạp về kinh nghiệm của con người.
Ví dụ có thể có lợi hơn cho các nhà khoa học nhận thức khi đánh giá các quá trình chú ý và nhận thức không đồng nhất trong chánh niệm (Merikle & Joordens, 1997) vì vậy họ có thể chọn định nghĩa chánh niệm với ngôn ngữ này.
Đối với các bác sĩ lâm sàng, tầm quan trọng thực tế của việc dạy khách hàng kỹ năng không phản ứng trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến việc xác định chánh niệm là một loại trạng thái không phán đoán không nhất thiết phải được giải thích trong các định nghĩa cổ điển.
Có lẽ thay vì tham gia vào những bất đồng xung quanh việc chánh niệm là gì, sẽ hữu ích hơn khi làm rõ những gì chánh niệm không phải là.
Nhiều người tin một cách sai lầm rằng mục đích của chánh niệm là để thư giãn, giải phóng căng thẳng và quay lưng lại với thế giới.
Trong thực tế không có sự xuyên tạc nào thô thiển hơn điều này. Mục đích thực sự của chánh niệm theo bất kỳ định nghĩa nào là để chuyển từ một sự giải thích nhận thức về thế giới (chúng ta liên tục đánh giá rủi ro và lợi ích của từng gặp gỡ ‘’ở trong đầu’’) sang một kinh nghiệm môi trường rõ ràng, khách quan hơn và chủ yếu dựa trên cảm nhận của giác quan.
Sự tiến hóa đã ghi nhận những lợi ích thích nghi của việc liên tục tham gia vào các mối đe dọa, tuy nhiên, các loại đe dọa mà chúng ta gặp ngày nay không rõ ràng và nguy hiểm ngay tại chỗ (như cảm thấy một con hổ đói gần đó và phản ứng bằng cách bỏ chạy) do đó sự quá chú ý đến những ý nghĩ là vô ích và thường gây đau khổ.
Các nguyên tắc chính của chánh niệm (Carmody, 2016) bao gồm: sự thừa nhận các thành tố của kinh nghiệm (ví dụ như ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác vật lý) biết rằng kích thích cảm xúc có thể tự điều chỉnh thông qua tập luyện chú ý (chẳng hạn chọn tập trung vào hơi thở như đối tượng trung hòa kích thích) và phát triển sự tách rời viễn cảnh (nhận biết ý nghĩ là ý nghĩ, không phải là hiện thực).
Giảm đau khổ hoặc thư giãn thường là sản phẩm phụ ngoài ý muốn của thực hành chánh niệm chứ không bao giờ là mục tiêu rõ ràng. Nó trở nên rõ ràng khi chánh niệm được thực hiện với mục tiêu này trong tâm trí, khi các cá nhân báo cáo về việc chánh niệm ‘’dở’’ với ngôn ngữ tự phê thay vì mô tả cảm giác từ các giác quan.
Chánh niệm thì không thể ‘’dở’’, chỉ cần nhận ra rằng đã không lưu ý từ đầu.
Psychology Today – Am I Being Mindful?
HBQ biên dịch
Nguồn: chi tu
