Tiếng Việt có phải một ngôn ngữ chịu ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán?

Quan điểm cho rằng tiếng Việt (một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic)) chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tiếng Hán ở nhiều khía cạnh rất phổ biến cả trong giới học thuật lẫn bình dân, có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhận thức về nguồn gốc dân tộc của người Việt. Không ít các tác phẩm được xuất bản đều đề xuất những ý niệm tương tự, tiêu biểu nhất, có thể ví dụ như nhà nghiên cứu ngôn ngữ John Phan của đại học Cornell đã sử dụng khái niệm “siêu Hán hóa” (highly sinicized) để chỉ Proto-Việt-Mường (Phan 2010), ám chỉ về một tiếng Việt bị Hán hóa rất mạnh.

Nhưng, nếu xem xét chi tiết trong từng khía cạnh của tiếng Việt, giả thuyết về tiếng Việt chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tiếng Trung Quốc chỉ là một huyền thoại. Sự thay đổi của tiếng Việt, phần lớn là do tự thân tiếng Việt, bên cạnh những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ tiếng Hán trên một số khía cạnh phi cấu trúc của tiếng Việt. Tiếng Việt cùng các ngôn ngữ khác trong vùng Đông Á đều tiến hóa cùng nhau, tiếng Việt không đơn thuần thay đổi dưới những ảnh hưởng tuyệt đối của tiếng Hán. Sự thay đổi của tiếng Việt bao gồm cả sự tiếp nhận lượng từ vựng khoảng 30-35% được mượn từ tiếng Trung Quốc để làm giàu kho từ vựng của mình, nhưng vẫn giữ cốt lõi từ ngôn ngữ Nam Á cả về từ vựng lẫn ngữ pháp, với những điểm đặc trưng riêng biệt. Từng vấn đề liên quan tới sự ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc đối với tiếng Việt sẽ được chúng tôi tổng hợp lại ở bài viết dưới đây, thông qua các nghiên cứu ngôn ngữ đáng tin cậy đã được công bố.

  1. Sự thay đổi của tiếng Việt không phải một chiều từ những ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc:

Alves (2001) đã dựa trên các bằng chứng so sánh về từ vựng, âm vị học, hình thái học và cú pháp, chứng minh và kết luận rằng, ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc, mặc dù có ý nghĩa về mặt từ vựng, nhưng sự ảnh hưởng chỉ nằm ở các phía cạnh phi cấu trúc của tiếng Việt.

Sự tiếp xúc ban đầu của những người nói tiếng Việt và những người nói tiếng Trung thường thông qua tiếp xúc hành chính, thương mại và cá nhân (Taylor 1983), phổ biến nhất là thông qua thương mại, tuy nhiên, sự tiếp xúc có lẽ không đủ liên tục để dẫn đến sự thay đổi ngôn ngữ trên diện rộng của tiếng Việt. Ngược lại, thì sự tiếp xúc này đã đồng hóa những người nhập cư Trung Quốc vào nền văn hóa Việt cổ hay Lạc tướng (Taylor 1983). Thành phần tiếp xúc chỉ là một bộ phận nhỏ, phần lớn dân số mù chữ trong khu vực đó sẽ có ít tiếp xúc trực tiếp với tiếng Trung Quốc, và những thay đổi cấu trúc ngôn ngữ có thể xảy ra rất chậm hầu hết vào thời hậu Đường, sau thời kỳ thống trị chính trị của Trung Quốc. (Alves 2001)

Đã có nhiều nhà nghiên cứu giả thuyết rằng kết quả của việc vay mượn bao gồm chủ yếu là ảnh hưởng từ vựng với một số ảnh hưởng âm vị học kèm theo (Thomason và Kaufmann 1988: 39). Tiếng Việt đã vay mượn nhiều từ vựng của Trung Quốc, nhiều hơn so với các ngôn ngữ lân cận trong khu vực Đông Nam Á lục địa hiện đại, tuy nhiên, bất chấp những giả định rằng những thay đổi đáng kể trong cấu trúc ngôn ngữ tiếng Việt – đặc biệt là âm vị học – là do tiếp xúc với tiếng Trung Quốc, hầu hết các đặc điểm ngôn ngữ của thế kỷ 20, tiếng Việt có thể được coi là kết quả của những thay đổi nội tại ngôn ngữ thông thường giữa các ngôn ngữ ở Đông Nam Á, âm vị học, hình thái và cú pháp tiếng Việt được thể hiện chủ yếu mang đặc điểm chính tả Đông Nam Á. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với cấu trúc ngôn ngữ Việt Nam được chỉ ra là rất ít, một số thay đổi cấu trúc khiến tiếng Việt có vẻ ngoài giống tiếng Trung Quốc thực sự là khá gần đây, chỉ phát triển trong vài thế kỷ qua mà không có sự thống trị trực tiếp về mặt chính trị của Trung Quốc (Alves 2001).

Tiếng Việt chịu ảnh hưởng khá mạnh của tiếng Trung Quốc, những lớp từ vựng tiếng Trung trong tiếng Việt trải qua hai giai đoạn, giai đoạn đầu tiên là trước thời Đường, được gọi là Hán Việt cổ, và giai đoạn thuộc Đường (Wang 1958; Lê 1959; Tryon 1979), các từ vựng thuộc giai đoạn Hán Việt cổ được sử dụng nhiều hơn trong đời sống thường ngày, các từ vựng thuộc giai đoạn thuộc Đường thường được sử dụng trong các văn bản. Hầu hết các từ vay Hán Việt đã thay đổi cả về cú pháp và ngữ nghĩa, thường xuất hiện trong các từ ghép có hình thức tiếng Việt bản địa.

Về âm vị học, tiếng Việt nói chung phù hợp với các đặc điểm phân loại học Đông Nam Á. Tuy nhiên, tiếng Việt được coi là gần giống nhất về mặt chính tả với các ngôn ngữ Thái hoặc Trung Quốc do có những đặc điểm chung của chúng, đó là hệ thống thanh điệu và cái gọi là các dạng từ đơn tiết (Alves 2001).

Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam trong giao tiếp cá nhân đã cho rằng hệ thống chữ viết tiếng Việt hiện đại là kết quả của ảnh hưởng của tiếng Trung và / hoặc tiếng Thái. Trên thực tế, dựa trên bằng chứng gần đây hơn từ nhóm ngôn ngữ Vietic (Nguyễn V. L. 1995; Ferlus 1992) cũng như các tài liệu lịch sử (Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội 1991) tiếng Việt chỉ mới phát triển tương đối gần đây cái gọi là đơn âm tiết, đây là giai đoạn cuối cùng trong một quá trình đơn âm hóa rất chậm.

Các từ vựng của Trung Quốc đã cung cấp đủ số lượng âm vị nhất định để có thể khuyến khích những thay đổi ngữ âm trong các phân đoạn từ tiếng Việt, cụ thể là ghép từ và giảm cụm. Tuy nhiên, nhiều điểm tương đồng với tiếng Trung Quốc thấy trong tiếng Việt hiện đại là những thay đổi khá gần đây và dường như là điểm cuối sau vài trăm năm của quá trình chủ yếu là ngôn ngữ nội tại. Không có dấu hiệu nào về sự chuyển dịch ngôn ngữ sang tiếng Trung và không có bằng chứng về khả năng song ngữ rộng rãi, và chỉ riêng việc vay mượn không thể gây ra sự thay đổi lớn như vậy đối với cấu trúc âm tiết tiếng Việt (Alves 2001).

Sự hình thành thanh điệu của tiếng Việt được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn 1 là sau khi Proto-Vietic tách khỏi nhánh ngôn ngữ Môn-Khmer, giai đoạn này tiếng Việt đã có sự xuất hiện của thanh điệu, giai đoạn 2 là từ trước 100 TCN, giai đoạn này đã bắt đầu có những giao tiếp với tiếng Trung Quốc, nhưng sự phát triển thanh điệu giai đoạn này xuất phát từ quá trình thay đổi tự nhiên, liên quan tới các đặc điểm của thanh quản, giai đoạn 3 đánh dấu những ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc và từ mượn tiếng Trung Quốc đối với sự phát triển thanh điệu. Sự tiếp xúc với tiếng Trung có thể là chất xúc tác một phần cho giai đoạn cuối của quá trình phát triển hệ thống thanh điệu tiếng Việt, các giai đoạn trước đó là kết quả từ sự phát triển nội tại của tiếng Việt (Alves 2001).

Các quá trình hình thành từ trong tiếng Việt hiện đại bao gồm từ ghép và từ láy, quá trình hoàn toàn không phải ảnh hưởng từ tiếng Trung Quốc, trong khi việc ghép từ ghép lại không yêu cầu tiếp xúc với ngôn ngữ khác để xảy ra (Alves 2001). Tuy nhiên, một lượng lớn các từ mới du nhập vào tiếng Việt trong thế kỷ 20 chắc chắn đã làm tăng quá trình tạo từ phức trong tiếng Việt.

Từ ghép trong tiếng Việt có thể liên quan đến hai yếu tố bản địa của Việt Nam, hai yếu tố Trung Quốc hoặc sự kết hợp của hai loại. Phần lớn các từ ghép với hai yếu tố Trung Quốc có từ sau thế kỷ 20 sau làn sóng từ vựng Pan-East-Asia lan truyền từ Nhật Bản (Sinh 1993).

Việc ghép từ đã thể hiện ý thức ngôn ngữ của người Việt, trong khi các thành tố bổ nghĩa đứng trước danh từ trong tiếng Trung Quốc thì chúng đứng sau chúng trong tiếng Việt, các từ ghép được du nhập vào tiếng Việt đã được sắp xếp lại một cách có ý thức theo cú pháp tiếng Việt.

Từ láy rất phổ biến trong tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á khác, mà không thấy được ở bất kỳ ngôn ngữ Trung Quốc nào. Quá trình hình thành từ láy trong tiếng Việt cũng được quan sát thấy trong các ngôn ngữ Môn-Khmer khác (Hoàng VH 1987, 1993) và tiếng Thái (Maspero 1912: 107-108).

Theo Alves, mặc dù có số lượng lớn các từ vựng tiếng Trung, cấu trúc cú pháp tiếng Việt không có sự thay đổi cấu trúc đáng kể, các từ mượn đã trải qua quá trình Việt hóa từ Hán-Việt. Ngữ pháp tiếng Việt đã được làm giàu thêm nhờ các từ mượn ngữ pháp tiếng Trung Quốc, mặc dù cấu trúc cú pháp tiếng Việt không bị thay đổi.

Bất chấp ảnh hưởng của từ vựng Trung Quốc ở những nơi khác trong từ điển tiếng Việt, các chữ số cơ bản của Việt Nam là tiếng Môn-Khmer .Các số từ ‘một’ đến ‘mười’ tất cả đều có thể được truy nguyên từ Proto-Mon-Khmer hoặc một nhánh con của nó. Đây là điểm đặc biệt trong tiếng Việt, khi hầu hết các ngôn ngữ khác trong vùng Đông Á và Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của hệ thống số đếm tiếng Trung.

Cấu trúc cụm danh từ tiếng Việt mặc dù tiếng Trung, qua nhiều nơi tiếp xúc ngôn ngữ khác nhau, có thể đã để lại dấu ấn về trật tự các yếu tố, về mặt cấu trúc cú pháp, thì tiếng Việt (và nhiều ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam có chung thứ tự này) vẫn mang tính chất điển hình của Đông Nam Á (Alves 2001).

Những điểm tương đồng rõ ràng về cấu trúc và kiểu chữ của tiếng Việt và tiếng Trung hiện đại có xu hướng bị ảnh hưởng một phần có điều kiện và nói chung là kết quả của nhiều khuynh hướng ngôn ngữ bên trong và tự nhiên hơn là thay đổi thông qua sự vay mượn cấu trúc.

  1. Lượng từ mượn tiếng Trung Quốc của tiếng Việt không nhiều như giả định:

Huyền thoại về tiếng Việt chịu ảnh hưởng nặng nề của tiếng Trung Quốc có xuất phát điểm chính là lượng từ mượn tiếng Trung trong tiếng Việt. Có không ít nhà nghiên cứu không qua thống kê chi tiết, đã phỏng đoán và giả định tiếng Việt có tới 60-70% từ vựng vay mượn tiếng Trung Quốc, hư Maspéro (1912) cho rằng có 50% từ vay mượn Trung Quốc trong tiếng Việt, còn Lê Xuân Thoại và Huỳnh Thanh Xuân (Toàn & Chào 2019) cho rằng từ vay mượn Trung Quốc chiếm 60-70% từ vựng tiếng Việt.

Nhưng qua thống kê chi tiết, những giả định của các nhà nghiên cứu hoàn toàn không chính xác. Lượng từ mượn tiếng Trung trong tiếng Việt chỉ chiếm khoảng 28-35%, kể cả trong khối từ vựng cốt lõi lẫn toàn bộ từ vựng tiếng Việt hiện đại.

Công trình của Viện Max Planck (2009), tìm hiểu về từ gốc, từ mượn trong 1000-2000 từ vựng cốt lõi của 41 ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có tiếng Việt, đã cho thấy: trong 1477 từ tiếng Việt thường dùng chỉ có 28,1% là từ vay mượn trong đó 25,3% từ vay mượn Trung Quốc, 1,2% từ vay mượn Pháp, 0,5% từ vay mượn Proto-Tai, 0,3% từ vay mượn tiếng Anh (Alves 2009).

Công trình “Từ ngữ Hán Việt: Tiếp nhận và sáng tạo” (Việt et al. 2018) tiến hành thống kê chi tiết số từ mượn tiếng Hán trong tiếng Việt toàn dân hiện tại, kết quả cho thấy lượng từ Hán-Việt chỉ chiếm khoảng 35,15% (14.933/45.850 từ) trong tiếng Việt. Lượng từ này bao gồm cả các từ Hán – Việt do người Việt tự sáng tạo nên.

Việc vay mượn giữa các ngôn ngữ là điều tất yếu ở bất cứ đâu trên thế giới, không có ngôn ngữ nào hoàn toàn biệt lập, không có sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại với các ngôn ngữ khác. Lượng từ vựng ở các ngôn ngữ gần gũi với Việt Nam có thể kể tới như Nhật có tới 34,9% từ vay mượn, tiếng Thái có 26,1% từ vay mượn (ở phần từ vựng cơ bản, chưa có thống kê toàn bộ từ vựng của các ngôn ngữ này) (Haspelmath & Tadmor 2009), trong đó phần lớn các từ vay mượn của hai ngôn ngữ này là tiếng Trung.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần kể tới chiều ảnh hưởng ngược lại, tức từ tiếng Việt nói riêng hay ngôn ngữ Nam Á nói chung tới tiếng Trung Quốc, có thể ví dụ như các từ 澳 [chó], 札 [chết], 獲 [ruồi], 虎 [hổ], 牙 [ngà], 弩 [ná], hay quan trọng nhất, đó là 江“giang” [krong trong tiếng Nam Á hay sông trong tiếng Việt] trong tên của con sông Trường Giang (hay tên gọi quốc tế là sông Dương Tử) có gốc từ ngôn ngữ Nam Á, được tiếng Hán mượn trong thời kỳ cổ đại hơn 2000 năm trước (Norman and Mei, 1976). Trong các ngôn ngữ Nam Á, các âm phục nguyên có tương quan cao nhất với tiếng Việt.

  1. Kết luận:

Thông qua khảo cứu chi tiết từng vấn đề liên quan tới sự ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc đối với tiếng Việt, kết quả đã cho thấy tiếng Việt không phải là một thứ tiếng chịu ảnh hưởng nặng nề của tiếng Trung, phần lớn những thay đổi của tiếng Việt là do tiến hóa tự thân của tiếng Việt, lượng từ vựng vay mượn tiếng Trung của tiếng Việt cũng chỉ khoảng 28-35%, tương đương với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới.

Sự vay mượn là tất yếu và bình thường ở mọi ngôn ngữ, nhưng với tiếng Việt, đáng tiếc là “huyền thoại về những ảnh hưởng tuyệt đối của tiếng Trung với tiếng Việt” đã và đang tạo nên những mặc cảm không nhỏ trong tâm thức của người Việt, dẫn tới rất nhiều những sự suy diễn về nguồn gốc dân tộc, như người Việt có nguồn gốc Trung Quốc, là một nhánh của Trung Quốc tách ra lập quốc gia riêng… Nhưng qua nghiên cứu ngôn ngữ khoa học và khách quan, huyền thoại đó đã được chứng minh là không chính xác. Những tư liệu ngôn ngữ cũng góp phần xác định chiều ảnh hưởng ngược lại của tiếng Việt hay ngôn ngữ Nam Á với tiếng Trung Quốc, cho thấy những ảnh hưởng ngôn ngữ luôn luôn là hai chiều.

Lang Linh

Tài liệu tham khảo:

Alves, Mark J. 2001. “What’s So Chinese About Vietnamese?” In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Graham W. Thurgood. 221-242. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies.

Alves, Mark J. 2009. ” Chapter 24. Loanwords in Vietnamese”. In Loanwords in the World’s Languages. Berlin, Boston: De Gruyter Mouton. doi: 10.1515/9783110218442.617

Toàn, Đoàn Mạnh. Chào, Lê Hồng. 2019 Phương pháp học từ vựng tiếng Hán hiện đại dựa vào mối liên hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với từ Hán Việt. Tạp chí khoa học – Đại học Đồng Nai. Số 13-2019.

Ferlus, Michel. 1992. Histoire abrégrée de l’évolution des consonnes initials du Vietnamien et du Sino-Vietnamien. Mon-Khmer Studies 20:11-125.

Haspelmath, M., & Tadmor, U. (Eds.). 2009. Loanwords in the World’s Languages. Berlin, Boston: De Gruyter Mouton. doi: 10.1515/9783110218442

Hoàng, Văn Hành. 1987. Góp Phần luận giải về cách cấu tạo từ láy các ngôn ngữ Môn-Khmer (An explanation of reduplication in MonKhmer languages). Ngôn Ngữ 1-2:48-57.

Hoàng, Văn Hành. 1993. Từ láy trong các ngôn ngữ Katuic · Việt Nam (Reduplication in the Katuic languages of Vietnam), Tạp Chí Ngôn Ngữ 1993.4:8-17.

Lê, Ngọc Trụ. 1959. Việt-Nam Chánh-Tả Tự-Vị. Saigon: Thanh-tân.

Maspero, Henri. 1912. Études sur la phonétique historique de la langue Annamite: les initiales. Bulletin de l’École Françoise d’ExtrêmeOrient, 12:1-127.

Nguyễn, Văn Lợi. 1995. Tiếng Rục (The Ruc language). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.

Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội. 1991. Từ Ðiển Annam-Lusitan-Latinh (Thường Gọi là Từ Ðiển Việt-Bồ-La). Ho Chi Minh City: Social Sciences Publishing House.

Norman, J. and Mei, T., 1976. The Austroasiatics in Ancient South China: Some Lexical Evidence. Monumenta Serica, 32(1), pp.274-301.

Phan, John D. 2010. ‘Re-Imagining “Annam”: A New Analysis of Sino-Viet-Muong Linguistic Contact’, Chinese Southern Diaspora Studies, vol. 4, pp3-24.

Sinh, Vinh. 1993. Chinese characters as the medium for transmitting the vocabulary of modernization from Japan to Vietnam in Early 20th century. Asian Pacific Quarterly, 25.1:1-16.

Taylor, Keith Weller. 1983. The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

Thomason, Sarah Grey and Terrence Kaufman. 1988. Language contact, creolization, and genetic linguistics. Berkeley: University of California Press.

Tryon, Ray. 1979. Sources of middle Chinese phonology: a prolegomenon to the study of Vietnamized Chinese. Southern Illinois University MA Thesis.

Việt, Phạm Hùng. Anh, Nguyễn Hoàng. Hà, Trịnh Thị. Huyền, Nguyễn Thị. Tân, Nguyễn Thị. Thại, Lê Xuân. Thắng, Lý Toàn. Trà, Dương Thị Thu. (2018). “Từ ngữ Hán Việt: Tiếp nhận và sáng tạo”. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Wang, Li. 1958. Han-yu-shi Lun-wen-ji. Beijing: Ke-xue Chu-ban-she.

Minh họa: Trống đồng nhà Nguyễn.

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc, 广西壮族自治区博物馆, Viện Khảo cổ và Di tích Văn hóa Quảng Tây, Trung Quốc 广西文物考古研究所 (2011). Trống đồng Việt Nam 越南铜鼓. Nhà xuất bản Khoa học báo chí 出版社科学出版社.

Leave a Reply

Your email address will not be published.