Chủ nhật, ngày 23/08/2026 18:30 GMT+7
Tào Nga Chủ nhật, ngày 23/08/2026 18:30 GMT+7
Nhiều giáo viên mầm non và phổ thông đang xếp chức danh nghề nghiệp Hạng III mong mỏi sắp tới có cơ chế chuyển tiếp vị trí việc làm công bằng nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho những nhà giáo đã đạt chuẩn, cống hiến lâu năm nhưng chưa kịp thăng Hạng II.
Giáo viên Hạng III: Nỗ lực cống hiến nhưng không ít người còn gặp thiệt thòi
Trao đổi với PV Báo Dân Việt, một số giáo viên đang giữ Hạng III cho biết, đang rất băn khoăn, lo lắng khi nghe tin sắp tới các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ thực hiện xếp bậc nghề nghiệp cho viên chức theo vị trí việc làm.
Các giáo viên cho rằng, trong suốt quá trình công tác luôn ý thức sâu sắc trách nhiệm nghề nghiệp, không ngừng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều người trong số họ đã có từ 10 đến hơn 30 năm cống hiến liên tục, sở hữu bằng Cử nhân, Thạc sĩ từ rất sớm và tích lũy bảng thành tích dày dặn với các danh hiệu Giáo viên dạy giỏi, Chiến sĩ thi đua cùng Bằng khen, Giấy khen các cấp.
Tuy nhiên, các giáo viên lo ngại sẽ chịu thiệt nếu việc chuyển sang hệ thống vị trí việc làm chỉ căn cứ mã số chức danh hiện hưởng mà không tính đến trình độ, thâm niên và thành tích. Điều này có thể khiến những nhà giáo đủ điều kiện nhưng chưa được thăng Hạng II do chưa tổ chức xét hoặc vướng trần tỷ lệ bị bất lợi, đồng thời làm giảm giá trị của quá trình phấn đấu, nâng chuẩn suốt nhiều năm.

Như trường hợp của cô Hứa Thị Hoài, giáo viên Trường Tiểu học Đồng Văn 1, tỉnh Nghệ An) với 34 năm cống hiến cho ngành giáo dục, trong đó có 27 năm kiên trì cắm bản tại vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn vùng miền núi rẻo cao.
Cô đạt danh hiệu Nhà giáo Nghệ An tiêu biểu năm 2025, 2 lần đạt Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, nhận 5 Bằng khen, Giấy chứng nhận cấp Trung ương, 9 Bằng khen cấp tỉnh, 1 lần Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh, nhiều lần là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở cùng 30 năm đảm nhiệm vai trò cán bộ cốt cán chuyên môn, Cấp ủy chi bộ, Tổ trưởng chuyên môn, nhiều năm là Chủ tịch Công đoàn, Bí thư chi đoàn, Tổng phụ trách đội, từng bồi dưỡng đội tuyển giáo viên đi thi giáo viên dạy giỏi tỉnh; Bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi tỉnh cho ngành.
Dù gánh vác trọng trách lớn và có đóng góp xuất sắc, đến sát ngày nhận quyết định nghỉ hưu, cô vẫn bị “đóng băng” ở Hạng III (mã số V.07.03.29) chỉ vì lý do: “Trường đã hết suất thăng hạng”.
Cùng chung tâm trạng, cô T.H.T, giáo viên một trường tiểu học ở Hưng Yên, cho biết bản thân có 14 năm là giáo viên giỏi, Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, Giấy khen của Thành Đoàn Thành phố.
Tuy nhiên, hiện cô vẫn giữ hạng III vì “có bằng đại học trước tuyển dụng nhưng biên chế xếp về hạng III cũ từ 2012 đến 2023 bị chuyển sang hạng III mới. Đến tháng 3/2026, nhà trường rà soát danh sách hồ sơ giáo viên được lên hạng II có tên trong danh sách nhưng sau đó tỉnh dừng không xét thăng hạng cho viên chức hết năm 2026. Lý do là các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ thực hiện xếp bậc nghề nghiệp cho viên chức theo vị trí việc làm theo quy định mới của Chính phủ.
Tương tự, cô N.T.K.S, giáo viên một trường tiểu học ở Nghệ An, chia sẻ, cô được tuyển dụng năm 2016. Cô sở hữu bảng thành tích chuyên môn dày dặn kinh nghiệm như Nhà giáo Nghệ An tiêu biểu làm theo lời Bác, Bằng khen của Bộ GDĐT, Bằng khen UBND tỉnh, Bằng khen Liên đoàn Lao động tỉnh; 3 lần đạt Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh (1 lần Top 10, 1 lần Top 30). Cô còn tham gia Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa cấp tỉnh, dạy thí điểm Chương trình Giáo dục địa phương, tập huấn chuyên đề STEM toàn huyện và làm giám khảo các hội thi giảng dạy.
Dù đã chuyển xếp sang Giáo viên tiểu học Hạng III (mới) nhưng do trường bị khống chế chỉ tiêu nên cô không được xét thăng hạng II.
“Trường của tôi đủ chỉ tiêu nên giáo viên không được thăng hạng, trong khi đó một số trường khác mặc dù giáo viên ít thành tích hơn nhưng vẫn được thăng hạng, tạo bất bình đẳng trong đội ngũ giáo viên”, cô S. bày tỏ.
Bên cạnh đó, các giáo viên phản ánh, giáo viên Hạng III và Hạng II làm công việc, giờ dạy, hồ sơ và chịu áp lực công việc hoàn toàn như nhau. Tuy nhiên, khoảng chênh lệch hệ số giữa Hạng III (Bậc 1 – 2,34) và Hạng II (Bậc 1 – 4,40) lên tới 2,06, tương đương với 6-7 bậc lương, tương ứng với khoảng thời gian 18-20 năm tăng lương định kỳ.
Ở bậc mầm non, giáo viên cho rằng có bất cập trong khung lương giáo viên mầm non. Cụ thể, phần lớn giáo viên mầm non Hạng III (mã số V.07.02.26) dù đã nâng chuẩn, tự học để đạt trình độ Cử nhân (Đại học) nhưng vẫn bị áp dụng bảng lương viên chức loại A0 với hệ số khởi điểm chỉ từ 2,10 (thấp hơn so với hệ số 2,34 của giáo viên tiểu học và trung học có cùng trình độ Đại học).
Trong khi đó, đặc thù công việc mầm non cực kỳ nặng nhọc, làm việc liên tục từ 10–12 tiếng/ngày, mức lương gốc thấp làm cho phụ cấp ưu đãi không bù đắp đủ công sức lao động. Việc cống hiến hàng chục năm nhưng hệ số lương vẫn bị bó hẹp trong khung A0 khiến thu nhập chưa tương xứng với trình độ đào tạo và thời gian công tác.
Từ đó, giáo viên mong mỏi sắp tới Bộ GDĐT xây dựng cơ chế chuyển tiếp thấu đáo khi chuyển sang Vị trí việc làm. Bảo lưu hợp lý quá trình công tác, thâm niên và thành tích khen thưởng đã tích lũy; không thuần túy căn cứ vào chức danh Hạng III hiện hưởng để xếp vị trí mới đối với những nhà giáo đã đủ điều kiện nhưng chưa kịp thăng hạng do lý do khách quan.
Giáo viên cũng mong cơ chế đặc biệt cho người có thâm niên từ 10-20 năm trở lên, giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn đạt nhiều danh hiệu thi đua cao quý, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu hoặc tự đưa ra các rào cản phụ.
Ngoài ra, giáo viên mong xem xét nâng mức lương phù hợp với trình độ Cử nhân và đặc thù lao động nặng nhọc của bậc học mầm non và ưu tiên đặc cách về quyền lợi cho giáo viên là người dân tộc thiểu số.
Cần cơ chế chuyển tiếp thống nhất, công bằng
Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM cho biết: “Qua đối chiếu hai bản kiến nghị với Luật Nhà giáo 2025, Nghị định 93/2026/NĐ-CP, Nghị định 232/2026/NĐ-CP, Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT và Công văn 5243/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 10/8/2026, tôi cho rằng kiến nghị của tập thể giáo viên có cơ sở đáng được xem xét về phương diện chính sách và công bằng trong chuyển tiếp.
Trước hết, phản ánh về tình trạng giáo viên có thâm niên, trình độ, thành tích tương đương nhưng cơ hội thăng Hạng II khác nhau do cơ cấu và chỉ tiêu của từng trường, từng địa phương là vấn đề đáng lưu ý. Các giáo viên cho rằng chính cơ chế này khiến nhiều giáo viên đủ tiêu chuẩn vẫn bị “mắc kẹt” ở Hạng III. Tuy nhiên, về pháp lý, đủ tiêu chuẩn Hạng II không đồng nghĩa với đương nhiên được bổ nhiệm Hạng II. Vì vậy, đề nghị bỏ hoàn toàn chỉ tiêu và tự động chuyển Hạng II phải được nhìn nhận là một kiến nghị sửa đổi chính sách, chưa phải quyền đương nhiên của giáo viên.
Tương tự, đối với giáo viên mầm non, việc đã có bằng đại học cũng không tự động làm phát sinh quyền được hưởng khung lương tương đương giáo viên phổ thông Hạng II. Trình độ đào tạo là một trong các tiêu chuẩn nghề nghiệp, còn xếp lương phải căn cứ chức danh, vị trí việc làm và quy định tiền lương hiện hành. Do đó, yêu cầu nâng khung lương là đề xuất chính sách có thể nghiên cứu, chứ chưa thể coi là quyền lợi pháp lý đã bị tước bỏ.
Theo tôi, vấn đề pháp lý cốt lõi không phải là có nên cho tất cả giáo viên Hạng III lên Hạng II mà là Nhà nước sẽ xử lý quyền lợi đã tích lũy dưới cơ chế cũ như thế nào khi chuyển sang cơ chế mới. Thâm niên, thành tích nghề nghiệp, thời gian công tác và trường hợp đã đủ tiêu chuẩn nhưng chưa được xét do hạn chế về cơ cấu cần được xem xét trong quy định chuyển tiếp.
Vì vậy, hướng kiến nghị hợp lý và thuyết phục hơn là Bộ GDĐT xây dựng cơ chế chuyển tiếp thống nhất, công bằng, bảo lưu hợp lý quá trình công tác và thành tích của giáo viên, đồng thời không để những bất cập của cơ chế chỉ tiêu cũ tiếp tục tạo bất lợi lâu dài khi chuyển sang hệ thống vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp mới”.