Nhìn chung, kền kền vốn không phải loài vật được yêu quý gì cho cam. Người ta gán chúng với cái chết, với những cơ thể phân hủy nham nhở bốc mùi – mà sự thật thì đúng là thế. Nhiều người kinh tởm loài chim lớn này; kể cả những người không cũng chẳng có vẻ gì là sẽ xếp kền kền vào danh sách ôm ấp và cưng nựng.
Bị ghét bỏ là thế, nhưng kền kền lại có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hệ sinh thái chúng cư ngụ. Những con chim này – cùng với chó rừng và linh cẩu – là những kẻ dọn xác đắc lực của tự nhiên. Tuy nhiên, trong khi đám bốn chân kia có những nguồn thức ăn khác, kền kền nhìn chung gần như không có cái xa xỉ được đổi thực đơn. Chính vì thế, đám chim này dường như là loài duy nhất đã tiến hóa đặc biệt cho việc ăn xác. Nhờ có kền kền, thời gian phân hủy của xác giảm xuống chỉ còn một phần ba, hạn chế đáng kể nguy cơ sinh sôi và phát tán của các loại nấm và mầm bệnh.
Cho đến những năm 1980, có ít nhất 40 triệu con kền kền ở Ấn Độ. Thế rồi, sau khoảng 20 năm, mọi thứ đảo lộn. Ước tính, 99% số kền kền trên đã biến mất mà không ai biết lý do tại sao. Cánh kền kền không rợp trời nữa, nhưng có lẽ người dân Ấn Độ cũng chẳng thể thấy trời sáng thêm được chút nào.
Kền kền đã đi đâu?
Tiến sĩ Prakash đã từng làm luận án ở Ấn Độ vào những năm 1980 và theo dõi số lượng kền kền ở vườn quốc gia Keoladeo. Khi ông quay trở lại đây vào năm 1996, các nông dân bắt đầu đề cập với ông việc kền kền đã biến mất không rõ nguyên do. Những đo đạc và quan sát sau đó của Prakash đã khẳng định mối lo này: số kền kền đã giảm mạnh, và thậm chí đến năm 2000, không còn một con kền kền nào làm tổ ở vườn quốc gia nữa.
Truy tìm nguyên nhân khiến những kẻ dọn xác mẫn cán này bốc hơi là một hành trình gian nan. Giả thuyết thiếu thức ăn ngay lập tức bị bác bỏ, khi những cái xác vẫn la liệt ở các ngôi đền nơi người dân Ấn Độ mang chúng đến. Giả thuyết tiếp theo là thuốc trừ sâu, khi Prakash nhận thấy có những con kền kền cổ rũ xuống khi chúng đang đậu; tuy nhiên kết quả kiểm tra những cái xác không cho thấy dấu hiệu thuốc trừ sâu.
Tình hình càng trở nên trầm trọng khi sự biến mất của kền kền vượt ra khỏi phạm vi vườn quốc gia. Trong khoảng thời gian đó, nhóm của Prakash đã nhận định được rằng nguyên nhân khiến đám kền kền chết là do suy thận. Họ quyết định liên hệ cộng đồng khoa học quốc tế nhờ giúp đỡ.
Câu trả lời ở Pakistan
Sự sụt giảm số lượng kền kền bắt đầu lan đến Pakistan, và một nhóm nhà nghiên cứu đã được cử đến. Họ đã thu thập mẫu vật từ hơn 2000 tổ kền kền, nhưng trong thời gian nghiên cứu, số tổ chim đó đã giảm xuống chỉ còn dưới 20 tổ, và đến năm 2002 thì một cuộc tuyệt chủng thực sự đang diễn ra.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một tia sáng. Từ xác những con kền kền chết, họ nhận thấy thận chúng chứa đầy tinh thể acid uric trắng, đồng nghĩa với một loại bệnh gout. Tức là, có thứ gì đó đang hủy hoại gan của những con chim này.
“Thứ đó phải rẻ, vì phần đông các nông dân không giàu.” nhà sinh vật học Munir Virani, phó giám đốc quỹ bảo tồn chim Peregrine nhận định. “Phải là thứ gì đó dễ mua, và phải gây ra suy thận.” Từ đó, nhóm nghiên cứu đi đến kết luận: thuốc chống viêm. Họ bắt đầu khảo sát những người nông dân về việc họ dùng thuốc gì, và họ cho gia súc dùng thuốc gì.
Câu trả lời nhanh chóng xuất hiện: thuốc Diclofenac.
Diclofenac là một loại thuốc chống viêm phố biến, cực kỳ rẻ, và được sử dụng rộng rãi cả cho người và cho động vật ở Pakistan. Tuy nhiên, loại này cực kỳ có hại với kền kền. Theo nghiên cứu, nếu kền kền ăn phải xác động vật từng dùng Diclofenac trong 72 giờ trước đó, nó sẽ chết. Tệ hơn, con kền kền sẽ không chết ngay; quá trình suy thận sẽ diễn ra trong vài ngày, và những con chim chết sẽ ở cách rất xa những cái xác chứa Diclofenac. Chính điều này khiến quá trình xác định nguyên nhân kền kền biến mất trở nên gian nan đến vậy.
Năm 2008, luật cấm sử dụng Diclofenac trong thú y chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên, số lượng kền kền tiếp tục giảm bởi những loại thuốc tương tự. “Còn rất nhiều loại thuốc có hại cho kền kền.” Prakash giải thích. “Chúng tôi đang gây áp lực cho chính phủ để cấm hết chúng, nhưng điều ấy bị những người nông dân và cả ngành công nghiệp dược phẩm phản đối dữ dội.”
Khi kền kền biến mất
Kền kền biến mất khiến Ấn Độ như một cơ thể trúng độc không được cung cấp thuốc giải định kỳ, và những triệu chứng dần lộ ra.
Đối tượng bị ảnh hưởng đầu tiên là nông dân. Trước nay họ vẫn nhờ kền kền tiêu hủy những xác gia súc, nhưng nay họ sẽ phải tự làm điều đó. Với quy mô 302 triệu con bò ở Ấn Độ, việc tiêu hủy những xác bò trở nên cực kỳ tốn kém và mất thời gian, đặc biệt là khi bò chủ yếu chỉ được nuôi lấy da và sữa chứ không phải lấy thịt do một số lý do tôn giáo, nên những xác bò thường là những con bò còn nguyên thịt. Một nhóm người chuyên thu lượm xương thú còn sót sau khi kền kền ăn xác cũng bị tác động; họ mất đi nguồn thu vì trước đây các cơ sở công nghiệp sẽ thu mua số xương đó, nghiền thành bột để sản xuất các hóa phẩm.
Bệnh dịch bắt đầu xuất hiện. Trước đây kền kền sẽ ăn xác và tiêu diệt nấm cũng như các mầm bệnh trong xác; nhưng nay khi không còn kền kền, xác thú trở thành thức ăn của đám chó hoang. Số lượng xác thú nhiều khiến số chó hoang tăng lên nhanh chóng; tuy nhiên không như kền kền, đám này không thể tiêu diệt mầm bệnh mà vẫn mang chúng trong mình. Điều này khiến chó hoang trở thành vật chủ trung gian truyền bệnh, đặc biệt là bệnh dại.
Theo thống kê, từ năm 1992 đến 2003, số chó hoang ở Ấn Độ đã tăng thêm một phần ba, đạt 30 triệu con. Cùng thời điểm, hàng năm ghi nhận hơn 17 triệu vụ chó cắn ở Ấn Độ, và mỗi năm có khoảng 20000 người Ấn qua đời vì bệnh dại, tương đương 1/3 con số này trên toàn thế giới. Điều này cũng đặt gánh nặng lên nền kinh tế Ấn Độ, khi từ năm 1993 đến 2006, 490 triệu USD được chi ra mỗi năm để tiêm vaccine phòng dại cho những người bị chó cắn.
Lá bài Monster Reborn và hành trình đưa kền kền trở lại
Trước cây thập tự cáo chung sắp sửa cắm xuống loài kền kền, chính quyền Ấn Độ đã thành lập các trung tâm bảo tồn và nhân giống loài chim này. Kết quả bước đầu có thể xem như đáng khích lệ, khi những con kền kền thuộc ba loại đang có nguy cơ tuyệt chủng đã đẻ được 400 trứng chim trong môi trường nuôi nhốt. Các lệnh cấm Diclofenac khác cũng được ban hành; năm 2015, Ấn Độ đã hạn chế lượng Diclofenac được phép sử dụng mỗi liều xuống dưới 3ml.
Tuy nhiên, cuộc chiến giành giật các sứ giả tử thần từ tay chủ nhân của chúng vẫn còn rất gian nan. Kền kền là loài đẻ thưa; chúng chỉ đẻ sau khi được ít nhất 5 tuổi, và chỉ đẻ một trứng mỗi năm. Chưa kể Diclofenac vẫn còn đang được sử dụng – dù là với quy mô nhỏ, cùng các loại thuốc có hại với kền kền khác. “Tuy nhiên, sau 15 năm, chúng tôi có thể kết luận rằng số lượng kền kền bắt đầu ổn định trở lại.” tiến sĩ Prakash phát biểu.
Cuối năm 2021, tám con kền kền thuộc nhóm loài nguy cấp đã được thả về tự nhiên, cùng với các biện pháp cần thiết để các nhà khoa học dễ dàng theo dõi chúng.
Nguồn: lược dịch từ “The tale of the disappearing vultures” (Lifegate)

