DANH TƯỚNG QUÝ LAN CỦA TRƯNG NỮ VƯƠNG

Bà quê gốc ở Long Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Phụ thân họ Hồ, vốn là một gia đình có thế lực, giàu có và trung hậu. Vào thời kì thuộc Hán, miền Chí Linh nhiều loạn lạc, nên cha mẹ bà mới đi nhiều vùng để tìm nơi cư trú. Sau đó chọn được địa điểm ở làng Tĩnh Luyện, bên bờ sông Đáy (tục danh làng Diện), nay thuộc xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà được sinh ra ở đất Tĩnh Luyện vào ngày 10 tháng 11 (chưa rõ năm), đặt tên là Quý Lan (Quý Lan Nương). Bà lớn lên cùng gia đình ở làng Tĩnh Luyện, trở người con gái rất thông minh, văn chương uyên bác, võ nghệ tinh thông, được nhân dân trong vùng mến phục.

Nghe tin Hai Bà Trưng chiêu cầu những trang anh hùng hào kiệt để mưu việc lớn, bà tìm đến và được hai bà thu dùng, lại được cử đến huyện Đan Phượng tập hợp các quan lang, phụ đạo ở đó cùng theo về với nghĩa quân, cùng khởi nghĩa ở cửa sông Hát năm Canh Tý (năm 40 sau CN). Bà Quý Lan được phong chức quan Nội thị đại tướng. 

Sau khi đánh đuổi quân Hán, Bà Trưng lên ngôi vua. Bà Quý Lan được phong thực  ấp ở Lập Thạch, hiệu là An Bình Công chúa. Trở về Lập Thạch, bà đến các làng Liễn Sơn, Ngọc Liễn dựng hai cung vả sinh sống ở đó.

Đến tháng Giêng năm Nhâm Dần, tướng nhà Hán là Phục Ba, theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm tiến đánh nghĩa quân Hai Bà Trưng. Bà Quý Lan theo lệnh của Bà Trưng đã đốc xuất binh phu ở các làng Thản Sơn, Liễn Sơn, Ngọc Liễn, Liên Hồ, Tĩnh Luyện cùng tướng sĩ trong toàn huyện Lập Thạch, tiến quân về hội với Trưng Vương.

Sau nhiều trận giao chiến, Bà Trưng rút về vùng Cấm Khê. Trên đường rút, quân của Trưng Vương chỉ còn một mình công chúa An Bình đi theo cùng với Trưng Nhị. Khi Trưng Vương hy sinh, công chúa An Bình chỉ còn 20 đệ tử, cùng đắp mộ cho Hai Bà Trưng ở núi Hi Sơn. Quân địch tiến tới giao chiến, bà rút quần về Ngọc Liễn, Liễn Sơn rồi đến Thản Sơn. Khi biết không thể thoát hiểm nguy bị bắt, bà đã tự vẫn ở đất làng Thản Sơn vào ngày 14 tháng Bảy năm Quý Mão (năm 43 sau CN). Ngày hôm sau, nhân dân làng Thản Sơn tìm đến thì mối đã đắp thành ngôi mộ lớn. Nơi ấy nay hãy còn, gọi là “Lăng” Đức bà An Bình. Nhớ công ơn đánh giặc giữ nước của Bà, nhân dân các làng huyện Lập Thạch lập miếu đền thờ cúng. Riêng bài vị thờ ở Thản Sơn ghi hàng chữ được gia phong là “Nguyễn Triều Thái tổ Hoàng phi An Bình công chúa”.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *