Không có mục tiêu phê phán giáo dục Hoa Kỳ, vì xu thế giáo dục này đang lan rộng tại cả Châu Âu, và cả Việt Nam. Nhưng cải cách là điều hết sức phức tạp. Nhiều ý tưởng ban đầu là tốt, nhưng khi đưa vào thực hành, lại tạo ra những vấn đề còn trầm trọng hơn. Đi sau, hiểu vấn đề người đi trước mắc phải để mình không mắc phải.
Học ở trường chỉ là một phần trong quá trình học tập và trưởng thành của một đứa trẻ. Phụ huynh cần dành nhiều thời gian với bọn trẻ hơn để giúp chúng xây dựng niềm đam mê với kiến thức. Đừng giao bọn trẻ cho cô bảo mẫu “smart phone”
Critical thinking skills được dịch thành kỹ năng tư duy phân tích/phản biện, vì mình thích thế.
Bài dịch low effort (8 trang A4 cỡ chữ 12) với sự hợp tác của google dịch. Copy, trích dẫn, share không cần hỏi.
——————————————————————–
Tưởng tượng một ngày, bạn đón con đi học về và hỏi: “Hôm nay con học được gì ở trường?”
Đây là hai câu trả lời bạn có thể nhận được:
Con có thể nói, “Con đã được học rằng vào năm 1240, quân mông cổ xâm lược châu Âu và tiêu diệt phần lớn quân đội Nga và Hungary”
Hoặc
“Con đã đọc một bài luận để tìm ý chính của tác giả”
“Thế bài luận đó về nội dung gì vậy?”
“Không gì cả”
Nếu bạn là cha mẹ, khả năng cao là con trai hoặc con gái của bạn sẽ có ít những ngày như trong trường hợp một, và phần lớn rơi vào trường hợp thứ hai.
Tại sao?
Trường học ở Hoa Kỳ, cũng như các chương trình đào tạo giáo viên, đã bị thống trị bởi phong trào Giáo Dục Cấp Tiến trong phần lớn thế kỉ trước. Nếu tôi cố giải thích tất cả niềm tin của phong trào Cấp Tiến, câu trả lời này sẽ là quá dài. Nhưng có thể rút gọn thành một ý chính.
Kiến thức không quan trọng
Một vài năm trước, trong một buổi đào tạo về “Common Core”, trợ lý giám đốc sở giáo dục của bang về cơ bản đã nói rằng, giáo viên không cần dạy kiến thức nữa, vì lũ trẻ có thể tìm thấy tất cả kiến thức chúng cần trên Google. Thay vào việc truyền tải kiến thức, giáo viên nên tập trung vào:
- Kỹ năng học tập
- Tư duy phân tích/phản biện
- kỹ năng đọc hiểu
- Làm việc nhóm
(Được phát hành vào tháng 6/2010 bởi The Council of Chief State School Officers (CCSSO) và National Governors Association Center for Best Practices (NGA), Common Core là một bộ tiêu chuẩn giáo dục được áp dụng từ 2010 đến nay tại hầu hết các bang tại Hoa Kỳ (41/51 tiểu bang). ommon Core là tập hợp những hướng dẫn rõ ràng, nhất quán về những điều học sinh cần nắm. Trước đây, rất nhiều bộ chương trình tại Mỹ chủ yếu hướng đến việc đạt điểm cao tại các bài kiểm tra chuẩn hóa, không phát triển và kiểm tra được mức độ sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh, tập trung. Bộ Common core tập trung vào sự sáng tạo, hợp tác, tư duy phản biện, thay vì những bài kiểm tra dạng đóng như bubble-test hoặc multiple choice. Bài đọc common core là dạng complex text, đọc khó hơn, khiến học sinh phải suy nghĩ, đào sâu. Đặc biệt, việc học và dạy sẽ theo dự án – project base learning, đánh giá năng lực dựa trên việc các em làm trong 1 dự án. Qua đó, các bạn sẽ thể hiện năng lực, sự hiểu biết của mình. rõ để có thể hiểu được các môn học từ mẫu giáo đến lớp 12.Common Core đánh giá học sinh nhiều kỹ năng cùng lúc qua bài học, bài dạy, project/ performance base, đánh giá năng lực dựa trên dự án các em làm để các em thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo để đưa ra sáng kiến, giải pháp cho vấn đề.)
Hoá ra là khi David Coleman (kiến trúc sư trưởng của Common Core) soạn thảo các tiêu chuẩn, ông ấy nhận ra rằng thiếu kiến thức là một trở ngại lớn ngăn cản hình thành tư duy phân tích/phản biện và khả năng đọc hiểu. Coleman thực tế đã kêu gọi cần xây dựng nhiều kiến thức hơn, chứ không phải ít đi. Nhưng khi các tiêu chuẩn được sàng lọc qua sự độc đoán mà phong trào Giáo Dục Cấp Tiến đã gây dựng trong 100 năm qua, phần xây dựng kiến thức đã bị xoá bỏ gần hết. Bạn có thể tìm hiểu chi tiết những gì đã xảy ra trong cuốn sách: The Knowledge Gap: The hidden cause of America’s broken education system–and how to fix it – “Khoảng cách tri thức: Nguyên nhân tiềm ẩn khiến hệ thống giáo dục của Mỹ bị phá vỡ – và cách khắc phục”
(Tóm tắt giới thiệu sách: Sau nhiều năm tham gia phong trào cải cách giáo dục, Natalie Wexler tình cờ tìm ra lời giải thích bí ẩn cho sự thiếu tiến bộ đáng thất vọng khi nói đến việc cung cấp cho mọi trẻ em một nền giáo dục chất lượng. Vấn đề không phải là một trong những vật tế thần thông thường: giáo viên lười biếng, cơ sở vật chất kém chất lượng, quản lý thiếu trách nhiệm. Đó là điều mà không ai nói đến: chương trình tiểu học tập trung cao độ vào các “kỹ năng” đọc hiểu phi ngữ cảnh thay cho kiến thức thực tế.)
Thực tế rằng các trường học, đặc biệt là ở cấp tiểu học, đang không cung cấp một môi trường giảng dạy giàu kiến thức mà học sinh cần để thành công
Nếu bạn đến từ một gia đình giàu có. Nhiều khả năng bố mẹ sẽ dẫn bạn tới viện bảo tàng, công viên quốc gia, nhà hát, hiệu sách, sở thú…., bố mẹ cũng đăng ký cho bạn vào các trại hè khoa học, lớp dạy nhạc và nhiều các hoạt động xây dựng kiến thức khác nữa. Về cơ bản, phụ huynh thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu dành nhiều thời gian để truyền đạt kiến thức một cách không chính thức cho con cái họ, giúp bọn trẻ xây dựng vốn từ vựng và hiểu biết về thế giới.
Những phụ huynh nghèo thường có xu hướng nói với con trẻ theo một cách trực tiếp hơn.
“Không được làm thế!”
“Ăn cơm nhanh lên”
Nhà nghiên cứu Betty Hart và Tod Risley đã chỉ ra rằng trẻ em nghèo nghe ít hơn khoảng 30 triệu từ so với các bạn đồng lứa tính đến thời điểm đi học. Và để làm phức tạp thêm vấn đề, trẻ em có nền tảng kinh tế xã hội thấp hơn dành nhiều thời gian hơn để xem ti vi.
(Các nhà nghiên cứu Betty Hart và Todd Risley thuộc Đại học Kansas đã đến nhà của 42 gia đình có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của cách thức trao đổi hàng ngày giữa cha mẹ và con cái trong việc hình thành ngôn ngữ và phát triển từ vựng. Họ phát hiện ra sự chênh lệch đáng kể giữa số lượng từ được nói cũng như các loại thông điệp được truyền tải. Sau bốn năm, những khác biệt trong tương tác giữa cha mẹ và con cái đã tạo ra sự khác biệt đáng kể về không chỉ kiến thức mà còn cả kỹ năng và kinh nghiệm của trẻ. Trẻ em từ các gia đình có thu nhập cao được tiếp xúc với nhiều hơn 30 triệu từ so với trẻ em từ các gia đình nhận phúc lợi xã hội)
Nếu muốn đảm bảo rằng tất cả học sinh nhận được một nền giáo dục chất lượng, điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể làm là áp dụng một chương trình giảng dạy giàu kiến thức, như được thúc đẩy bởi Core Knowledge Foundation – Tổ chức Kiến thức Cốt lõi
Chương trình học giàu kiến thức sẽ làm gia tăng sự quan tâm và gắn bó của học sinh, đồng thời cải thiện khả năng đọc hiểu.
——————————————————————–
Sam (舢艒) Felton
Bạn rất đúng.
Cha mẹ tôi đều là học giả – một là nhà nghiên cứu khoa học và một là giáo sư đại học. Gia đình tôi chưa bao giờ giàu có về tiền bạc, nhưng tôi đã được tích cực đắm mình trong thông tin và trải nghiệm xây dựng kiến thức ngay từ khi sinh ra.
Nếu tôi chỉ dựa vào hệ thống trường học địa phương để dạy bản thân, tôi sẽ không bao giờ có thể trở thành một con người cũng như có chuyên môn như ngày nay.
Như một quy luật, lũ trẻ không ngu ngốc. Bọn trẻ chỉ thiếu kinh nghiệm mà thôi. Lượng thông tin chúng có thể tích luỹ thật đáng kinh ngạc, giống như những miếng bọt biển thèm khát thông tin vậy.
Nếu bạn nhấn chúng vào Biển Tri thức, chúng sẽ học cách bơi và có lẽ sẽ ở trong biển tri thức suốt cuộc đời. Con gái tôi đã làm được điều đó. Cô ấy nay đã trở thành một người tự học suốt cuộc đời.
Ted Kord
Sam, cảm ơn bạn đã chia sẻ. Không biết từ thời điểm nào, giáo dục phổ thông đã trở nên say mê với ý tưởng rằng kiến thức nằm bên trong bọn trẻ, và giáo viên chỉ cần tạo ra đầy đủ các hoạt động nhóm, kiến thức sẽ tự xuất hiện. Tôi gọi đó là cách tiếp cận Kung Fu Panda. “The Kung Fu is inside you” (Kung Fu ở sẵn ở trong bạn). Thực thế cách duy nhất để có Kung Fu ở bên trong là cần học từ một ai đó biết Kung Fu.
Ted
——————————————————————–
Jonathan
Là một học sinh 18 tuổi người Ireland, tôi đã trải qua sự kết hợp nhiều chương trình giảng dạy, từ phương pháp tiếp cận kiểu cũ “ngồi xuống và ghi chép” cho đến phương pháp tiếp cận “cấp tiến” :”hãy lấy bút chì màu ra và bắt đầu phân tích/phản biện”. Tôi có thể nói, kiến thức là vô cùng quan trọng và tôi thực sự lo lắng cho các thế hệ tương lai, nếu chương trình giáo dục vẫn tiếp tục tiến hành theo cách này. Các khóa học trở nên tồi tệ. Khi tôi tham gia kì thi Trung học cơ sở (kỳ thi cấp tiểu bang năm 15 tuổi), học sinh được kỳ vọng sẽ biết các chức năng và cách sử dụng kính hiển vi – những thông tin có giá trị. Với chương trình Trung học mới, kỳ vọng với học sinh 15 tuổi chỉ là nhận biết đâu là kính hiển vi. Chỉ có vậy. Chỉ cần nói “kính hiển vi” và bạn đã có 3 điểm. Thật không may, cuộc thập tự chinh về kiến thức này đang lan rộng ra tất cả các môn học.
Bạn không thể “phân tích/phản biện” nếu không có nền kiến thức. Làm sao mà học sinh có thế thấy được thành kiến trong một bài báo cũ nếu họ không biết gì về sự kiện mà nó thảo luận? Lấy ví dụ, bạn cần biết Đức Quốc Xã vươn lên nắm quyền như thế nào trước khi có thể phát hiện ra rằng tác giả đang bốc phét về chủ đề này.
Tôi có một ý nữa, tôi tin rằng những thiếu niên tuổi teen theo bản năng sẽ chọn cách ít khó khăn nhất. ‘Làm việc nhóm!’ và ‘giải quyết vấn đề” là trò hề, không ai coi trọng những bài tập đó vì cảm thấy không cần thiết. Ai cũng có thể biến một bài kiểm tra kiểu “học cách phát hiện thành kiến của tác giả và cách đánh giá thành công các kết luận mà tác giả thảo luận” thành trò đùa. Tôi biết điều đó vì tôi đã từng là một học sinh, viết những thứ rác rưởi, giả vờ là mình đã học được những kỹ năng phân tích tư duy hoàn toàn mới. Trẻ con không hề ngu ngốc, chúng sẽ làm theo cách ít tốn công nhất có thể, và chúng cũng phát hiện ra có thể lợi dụng chương trình giáo dục mới dựa trên kỹ năng này. Với cách tiếp cận dựa trên kiến thức, không có chỗ để trốn. Học sinh hoặc là biết sự khác biệt giữa GDP và GNI hoặc là không. Không thể giả vờ, không thể biến bài kiểm tra thành trò đùa và học tập chăm chỉ sẽ được tưởng thưởng.
Cuối cùng, tôi muốn nói rằng lũ trẻ ngày nay không kém thông minh so với các thế hệ trước. Bằng chứng là tôi và bố đều bắt đầu học môn tiếng latin ở cùng một độ tuổi. Bất chấp khoảng cách 40 năm, chương trình giảng dạy tiếng Latin hầu như không thay đổi, đó là một trong những lý do tại sao tôi lại thích môn này. Với tiếng Latin, chúng ta phải học từ vựng (Học vẹt, thật kinh dị, không hiểu sao tôi lại có thể học nổi), hơn 300 dòng thơ Latin, các đời Hoàng Đế La Mã, từng phần nhỏ ngữ pháp…Không chỉ là tất cả các thế hệ đều có khả năng học những điều đó, theo tôi, phương pháp giảng dạy kiểu cũ này đã dạy cho tôi nhiều kỹ năng tư duy phân tích/phản biện hơn bất kỳ cách tiếp cận kiểu mới dựa trên sự vui vẻ vô vị nào. Được trang bị với kiến thức từ vựng và ngữ pháp, tôi có thể dịch những đoạn văn xuôi chưa từng gặp. Chỉ khi có kiến thức tôi mới có thể chia nó thành từng đoạn, tiếp tục chia nhỏ hơn, xử lý các vấn đề gặp phải và cuối cùng có thể hài lòng khi dịch được thành một câu có nghĩa. Đó là một phương pháp, cách tiếp cận để giải quyết vấn đề mà chỉ có thể đạt được với nhiều năm học tập.
Cảm ơn bạn vì một câu trả lời rất thú vị. Nếu các nhà khoa học trong OECD nhận thức được hậu quả thực tế của các chính sách mà họ đề ra, có lẽ chúng ta có thể cứu các thế hệ tương lai khỏi trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng về tri thức này.
——————————————————————–
James W Clarke.
Câu truyện tương tự cũng đang xảy ra trên khắp châu Âu. Kiến thức không cần thiết vì bạn có thể google nó. Đồng nghiệp của tôi đã khiến cả cuộc họp bật cười khi nói với một hiệu trưởng, người đã phát biểu điều trên, rằng bạn không thể sử dụng Google khi chơi đố vui ở quán rượu (hoặc thi ai là triệu phú)
——————————————————————–
Michael Taylor
Câu trả lời rất hấp dẫn. Tôi nghĩ rằng kiến thức là quan trọng nhưng sẽ là vô nghĩa nếu chỉ nhồi nhét. Dạy kết hợp tất cả các kỹ năng mà bạn đã liệt kê dường như là một cách làm có giá trị thực tế. Dạy về một sự kiện nhưng cũng đồng thời sử dụng tư duy phân tích/ phản biện sẽ giúp học sinh hiểu đầy đủ và hình thành một bức tranh toàn diện. Nguyên nhân và quan điểm cũng quan trọng như các sự kiện cụ thể và tôi không nghĩ rằng chúng loại trừ lẫn nhau.
Ted Kord
Michael, Tôi nghĩ nếu anh đọc thêm vài câu trả lời của tôi, anh sẽ thấy tôi thực sự nghiện tư duy phân tích/phản biện.
Tôi không nghĩ rằng mình từng dạy tư duy phân tích/phản biện như là một kỹ năng đơn lẻ, và thành thật mà nói tôi nghi ngờ rằng kỹ năng đó có còn tồn tại hay không. Tất cả những gì chúng ta cho là “tư duy phân tích/phản biện” thực ra là kỹ năng áp dụng kiến thức. Khi bạn có đủ kiến thức và bạn trình bày các ý quan điểm ngược nhau về một sự việc, bạn sẽ tự nhiên tham gia vào “tư duy phân tích/phản biện”… mà không cần được dạy.
Tôi cho rằng anh không phải là một thợ cơ khí và chưa bao giờ sửa chữa xe. Lần tới nếu xe của anh gặp sự cố, anh có thể thử tư duy phân tích/phản biện xem vấn đề nằm ở đâu để nhằm khắc phục, hoặc có thể đưa xe tới gặp một người biết cách ô tô vận hành. Điều nào sẽ giúp ô tô của anh hoạt động bình thường lại nhanh hơn?
Lúc này người thợ sẽ tham gia vào một hình thức phân tích lập luận. Là một người thường xuyên tham gia vào quá trình phân tích/phản biện, tôi thấy ấn tượng hơn nhiều với cách phân tích của một chuyên gia hơn là cách phân tích phản biện của chính bản thân mình.
Ted
Michael Taylor
Tôi lớn lên và học ở Anh Quốc nhưng đã dạy học ở Hoa Kỳ trong mười lăm năm. Ở Anh, chúng tôi được dạy về những kiến thức và sự kiện cụ thể, đồng thời cũng được khuyến khích để phân tích theo hướng phản biện. Lấy ví dụ, trong môn văn, chúng tôi phải thảo luận và tranh luận về động cơ và hành động của nhân vật. Còn tại Mỹ, ít nhất là tại nơi tôi dạy, các câu hỏi ít khi đi sâu hơn là hỏi ai, cái gì, khi nào. Những câu hỏi trắc nghiệm đang giết chết tư duy phân tích/phản biện, vì rất khó để trả lời các câu hỏi đa sắc thái bằng cách lựa chọn A/B/C/D.
Trong năm năm gần nhất, trường tôi dạy bắt đầu áp dụng chương trình giáo dục AICE (Advanced International Certificate of Education- Chứng chỉ giáo dục quốc tế nâng cao) giống như ở quê tôi. Thay vì dạy theo cách của AICE, giáo viên tiếp tục dạy theo kiểu hiện tại và sau đó cho học làm các bài kiểm tra của AICE. Tỉ lệ qua môn khá tốt, nhưng sự phân loại điểm thì thật kinh khủng. Lũ trẻ ít khi đạt điểm C trở lên, mốc được coi là thành công ở Anh. Nhưng vì tỷ lệ qua môn cao, nên có vẻ tất các đều tốt. Điểm mấy chốt ở đây là, những dữ liệu đang che đậy sự thật sự thật thực tế và nếu dùng một chút tư duy phản biện sẽ thấy rằng tư duy phản biện đang không được dạy.
Ví dụ về ô tô của bạn rất thú vị, nhưng tôi nghĩ rằng một người thợ cơ khi sẽ dùng tư duy phân tích/phản biện để chẩn đoán vấn đề, và sau đó áp dụng một giải pháp dựa trên kiến thức mà họ đã tích luỹ được trong quá trình đào tạo. Như tôi đã nói từ đầu, tôi tin rằng kiến thức là cần thiết, và có lẽ giống như bạn nói, người ta học cách áp dụng kiến thức theo thời gian, nhưng chúng ta (giáo viên) sao không dạy học sinh áp dụng từ sớm?.
Cảm ơn vì đã bắt tôi phải tư duy!
Michael
——————————————————————–
Steve Lorenzo
Với kinh nghiệm 39 năm dạy học của mình, tôi thấy bạn đúng. Và ngày càng tệ hơn. Chúng ta (giáo viên) không thể đánh đố một đứa trẻ vì sợ sẽ làm tổn thương cảm xúc của nó. Chúng ta xem xét kỹ lưỡng từng điểm dưới C vì sợ ảnh hưởng đến lòng tự trọng của học sinh. Chúng tôi khuyến khích cung cấp bài kiểm tra bổ sung (cho học sinh có cơ hội làm bài kiểm tra tùy chọn, bên cạnh bài tập bắt buộc, nhằm nâng cao điểm môn học) và cho phép nộp bài muộn. Tình huống của tôi hơi khác một chút. Cộng đồng tôi dạy có tỉ lệ dân cư gốc Hoa cao. Phụ huynh và học sinh mong đợi nhận thử thách và phấn đấu để trở nên xuất xắc.
——————————————————————–
John Smith
Google là tất cả những thứ bạn cần. Học cả tấn “kiến thức” từ đó. Tư duy phân tích/phản biện quan trọng hơn.
James W Clarke.
Không, bạn chỉ có được thông tin. Kiến thức nằm lâu dài trong trí nhớ của bạn. Thêm nữa, nếu không có kiến thức nền tảng về một chủ đề, thì bạn không thể dùng google được, vì bạn không thể biết đâu là sự thật, đâu là do ai đó ngụy tạo. Tư duy phân tích/phản biện là một phần trong quá trình phát triển bản thân, chúng ta luôn làm điều đó. Khi sử dụng google, tôi chủ yếu tìm thông tin về thế kỉ 16 – tôi thường kiểm tra lại với vợ tôi, người có bằng cấp về lịch sử cận đại, để đảm bảo những gì tôi đọc không phải là ngụy tạo, hoặc là nó có áp dụng đúng với khoảng thời gian tôi quan tâm hay không. Nếu đang nghiên cứu về những gì mà tôi biết, ví dụ trồng trọt, nuôi chó, bệnh điếc, lịch sử hiện đại, thần học, làm vườn… tôi có thể tự biết đâu là đúng đâu là sai.
Magnus Johansson
Google là một công cụ tuyệt vời, nó giống như một thư viện bản nâng cấp vậy. Nhưng bạn cần những kỹ năng để sử dụng công cụ đó, và tư duy phân tích/phản biện không thể được dạy như một kỹ năng trừu tượng thuần tuý được.
——————————————————————–
Cory Myers
Tôi có một câu chuyện để kể với mọi người. Ở học khu của tôi, mọi đứa trẻ ở lớp mẫu giáo đều phải làm bài kiểm tra IQ. Những em đạt điểm xuất sắc được đưa vào một chương trình được gọi là plus program (tạm dịch: chương trình nâng cao). Trong chương trình này, bạn học nhanh nhất theo khả năng có thể để tiếp thu kiến thức. Tôi đã học chương trình nâng cao, trong lớp có 12 người. Chương trình đã bị đóng lại vào năm thứ ba để có thể chuyển ngân sách vào các chương trình bóng bầu dục trong trường học.
Sau ba năm học, tôi đã có thể học và kiểm tra ở mức tương đương lớp 8. Bạn kém nhất ở mức lớp 5. Bạn giỏi nhất ở múc lớp 9. Lớp nâng cao bị giải tán và chúng tôi không được học ở lớp tương đương với khả năng học thuật của mình, mà về đúng với lứa tuổi. Như mọi người có thể hình dung, việc bắt buộc làm chậm lại quá trình học tập đã giết chết tình yêu học tập của chúng tôi. Trong số 12 người chúng tôi, chỉ có hai người không gặp phải kết cục tồi tệ. Tất cả vì chúng tôi bị bắt chậm lại bằng với bạn chậm nhất ở lớp.
Không nên lấy học sinh chậm tiến nhất làm mẫu số chung, và cũng không nên kìm hãm những đứa trẻ thật sự thông minh. Chúng muốn bao nhiêu kiến thức, cung cấp cho chúng bấy nhiêu, đó là cách nuôi dưỡng tình yêu với kiến thức. Đó là cách xây dựng thế hệ tương lai.
——————————————————————–
Harry Keller
Câu trả lời của bạn bao phủ rất nhiều vấn đề. Ở phần một – về kiến thức và kỹ năng tư duy- tôi nghĩ bạn vừa đúng vừa sai. Kiến thức và kỹ năng tư duy giống như hai chân của con người. Kiến thức mà không có kỹ năng tư duy sẽ biến bạn thành một con vẹt. Có kỹ năng tư duy mà không có kiến thức sẽ giống như một chiếc ô tô mà không có động cơ vậy
Vấn đề chính gặp phải nhiều trường học ở Mỹ, theo tôi là quá tập trung vào ghi nhớ. Ghi nhớ không xây dựng nên kiến thức. Học sinh học vẹt, làm bài kiểm tra và quên. Kiến thức không phải một đống các sự thật cần ghi nhớ. Phải bao gồm cả hiểu những sự thật đó. kỹ năng tư duy không đến từ trực giác. Nó là khả năng đào sâu vào một chủ đề và không chỉ đơn thuần lấy ấn tượng đầu tiên làm kết luận cuối cùng.
Những gì bạn phủ nhận về phong trào “cấp tiến” là điều cần thiết. Nhiều phong trào “cải cách” giáo dục đã bị lầm đường, một số còn trầm trọng. Điều tương tự cũng xảy ra với phong trào “back to basics” – trở về với truyền thống. Quá nhiều người đã nhìn nhận nền giáo dục bằng hai màu trắng đen mà không có điểm trung gian.
Kỹ năng tư duy phân tích/phản biện là cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Như bạn đã nói, kiến thức về một chủ đề nhất định là cần thiết để áp dụng những kỹ năng đó. Tư duy hợp lý và tư duy sáng tạo cũng cần phải học tập
Cuối cùng, chúng ta có thể đang tranh luận xem nên dành bao nhiêu thời gian cho tiếp thu kiến thức và bao nhiêu thời gian để luyện tập kỹ năng tư duy. Theo quan điểm của tôi, phải đi đôi với nhau. Việc chỉ trình bày ngày tháng (1240) và sự kiện (quân Mông cổ xâm lược châu Âu…) không có tác dụng gì với học sinh. Hiểu tại sao quân Mông Cổ làm vậy và điều gì đem lại thành công cho họ sẽ có giá trị lớn hơn rất nhiều so với chỉ nhớ ngày và tên của kẻ xâm lược.
Với môn hoá trung học, học sinh học bảng tuần hoàn các nguyên tố. Để học sinh có kiến thức, cần học về sự hình thành bảng tuần hoàn, ý nghĩa và cách sử dụng của nó.
Nguồn: Vĩnh Linh
