CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH

1. Tổng quan

Rối loạn nhân cách là một loại rối loạn tâm thần, trong đó cá nhân có những suy nghĩ, chức năng, hành vi cứng nhắc và không lành mạnh. Một người có rối loạn nhân cách thường hay gặp các vấn đề trong cảm nhận và hòa đồng với hoàn cảnh và người khác. Điều này gây ra những vấn đề rõ rệt, làm hạn chế những mối quan hệ, những hoạt động xã hội, công việc và học tập.

Trong một vài trường hợp, cá nhân có thể không nhận ra được rằng họ đang mắc rối loạn nhân cách, bời vì những cách suy nghĩ, hành vi đó được cá nhân coi là bình thường, và thường khó chịu khi người khác nêu ý kiến về cách suy nghĩ của họ.

Rối loạn nhân cách thường hay khởi phát ở lứa tuổi thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành. Có nhiều loại rối loạn nhân cách. Một số loại có thể giảm dần khi đến tuổi trung niên.

2 Các triệu chứng

Các loại rối loạn nhân cách được chia thành ba nhóm, dựa trên những đặc điểm về mặt biểu hiện và triệu chứng. Nhiều người có một rối loạn nhân cách cũng có thể có những dấu hiệu và triệu chứng của ít nhất là một loại rối loạn nhân cách khác. Để chẩn đoán, không nhất thiết cần có toàn bộ các triệu chứng trong danh sách triệu chứng của một rối loạn nhân cách.

2.1 Rối loạn nhân cách nhóm A

Những rối loạn nhân cách nhóm A được đặc trưng bởi những đặc điểm như: suy nghĩ hành vi kỳ quặc, lập dị. Bao gồm: Rối loạn nhân cách paranoid, rối loạn nhân cách phân liệt và rối loạn nhân cách kiểu phân liệt.

2.1.1 Rối loạn nhân cách paranoid

 Thường xuyên không tin tưởng, nghi ngờ người khác, hoặc động cơ của người khác

 Có những niềm tin vô lý rằng những người khác đang cố gắng làm hại hoặc lừa gạt mình

 Nghi ngờ vô lý về lòng trung thành hoặc sự thành thật của người khác

 Khó khăn trong việc thổ lộ mọi chuyện với người khác vì lo ngại rằng người khác sẽ sử dụng chính những thông tin đó để làm hại mình

 Những lời nhận xét vô thưởng vô phạt hoặc những tình huống không có gì nguy hiểm cũng làm cho cá nhân cảm thấy mình đang bị lăng mạ, sỉ nhục hoặc tấn công.

 Giận dữ, thù địch khi chỉ bị chê trách nhỏ

 Khuynh hướng luôn ghi nhớ những nỗi bực tức

 Có những nghi nhờ không thỏa đáng rằng vợ/chồng mình không chung thủy với mình.

2.1.2 Rối loạn nhân cách phân liệt

 Thiếu sự hứng thú trong các quan hệ cá nhân và xã hội, thích ở một mình

 Thiếu sự biểu hiện cảm xúc trên gương mặt

 Không cảm thấy vui vẻ thoải mái trong hầu hết các hoạt động

 Không có khả năng nhận những tín hiệu xã hội

 Luôn có vẻ ngoài lạnh nhạt hoặc dị biệt với người khác

 Có rất ít hoặc hầu như không hứng thú trong tình dục với người khác

2.1.3 Rối loạn nhân cách kiểu phân liệt

 Cách ăn mặc, suy nghĩ, niềm tin, nói năng, hành vi kì dị

 Có những trải nghiệm tri giác kì lạ, chẳng hạn có nghe tiếng nói thì thầm tên của mình

 Cảm xúc thờ ơ, hoặc không có những đáp ứng cảm xúc phù hợp

 Lo âu xã hội, thiếu hoặc cảm thấy không thoải mái với những quan hệ thân thiết

 Thờ ơ lãnh đạm, nghi ngờ vô lý với người khác

 “Suy nghĩ ma thuật” – chẳng hạn như tin rằng mình có thể gây ảnh hưởng đến người hoặc sự vật khác bằng ý nghĩ của mình

 Tin rằng những sự việc tình cờ ngẫu nhiên lại có một thông điệp riên g nào đó với mình.

2.2 Rối loạn nhân cách nhóm B

Rối loạn nhân cách nhóm B biểu hiện bằng tính chất kịch tính, cảm xúc quá độ, suy nghĩ  hoặc hành vi không dự đoán được. Bao gồm rối loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ranh giới, rối loạn nhân cách kịch tính, và rối loạn nhân cách ái kỉ.

2.2.1 Rối loạn nhân cách chống đối xã hội

 Không quan tâm tới mong muốn, cảm xúc của người khác

 Thường xuyên nói dối, trộm cắp, sử dụng biệt danh, chỉ đạo người khác

 Thường hay gặp vấn đề với pháp luật

 Thường hay xâm phạm quyền của người khác

 Gây hấn, thường có hành vi bạo lực

 Không quan tâm đến sự an toàn của bản thân và của người khác

 Có những hành vi bộc phát

 Thiếu trách nhiệm

 Thiếu sự ân hận sau khi hành động

2.2.2 Rối loạn nhân cách ranh giới

 Có những hành vi bộc phát, nguy hiểm, ví dụ như quan hệ tình dục không an toàn, cờ bạc, ăn vô độ

 Dễ thay đổi, không ổn định về tự đánh giá bản thân

 Các mối quan hệ không ổn định, có tính thái quá

 Cảm xúc lên xuống thất thường, thường là phản ứng với những stress giữa các cá nhân với nhau

 Hành vi tự sát hoặc đe dọa tự làm tổn thương

 Sợ hãi mạnh mẽ phải ở một mình hoặc bị bỏ rơi

 Thường xuyên có cảm giác trống rỗng

 Thể hiện sự giận dữ thường xuyên, thái quá

 Paranoid thường xuất hiện và hết đi liên quan tới stress

2.2.3 Rối loạn nhân cách kịch tính

 Luôn luôn tìm kiếm sự chú ý

 Có những thể hiện cảm xúc, kịch tính quá mức hoặc có những khêu gợi tình dục để thu hút sự chú ý

 Nói năng một cách quá kiểu cách, ý kiến cá nhân chắc chắn nhưng lại có ít những chứng cứ thực tế hoặc chi tiết để ủng hộ ý kiến đó

 Dễ bị ảnh hưởng bởi người khác

 Cảm xúc hời hợt, dễ thay đổi

 Bận tâm quá mức về hình thể bên ngoài

 Nghĩ rằng mối quan hệ với những người khác thân thiết hơn mức thực tế

2.2.4 Rối loạn nhân cách ái kỷ

 Tin rằng mình là người đặc biệt và quan trọng hơn những người khác

 Tưởng tượng về sức mạnh, thành công, sự quyến rũ của bản thân

 Không có khả năng nhận biết những mong muốn và cảm xúc của ngươi khác

 Cường điệu hóa những thành tích hoặc tài năng của mình

 Luôn mong chờ những lời khen ngợi, ngưỡng mộ

 Ngạo mạn

 Mong chờ vô lý những sự quý mến và lợi ích từ những người khác, và do đo thường hay lợi dụng người khác

 Ghen tỵ với những người khác, hoặc tin rằng những người khác ghen tỵ với mình

2.3 Rối loạn nhân cách nhóm C

Những rối loạn nhân cách nhóm C biểu hiện bằng những suy nghĩ hoặc hành vi lo âu, sợ hãi.Bao gồm: rối loạn nhân cách tránh né, rối loạn nhân cách phụ thuộc, và rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế.

2.3.1 Rối loạn nhân cách tránh né

 Quá nhạy cảm với những lời phê bình hoặc sự từ chối

 Cảm thấy không đủ tự tin, yếu thế, không đủ lôi cuốn

 Tránh né những hoạt động mà yêu cầu cần sự tương tác cá nhân

 Giảm tương tác xã hội, rụt rè, cô lập, tránh những hoạt động mới hoặc gặp gỡ người lạ

 Xấu hổ quá mức trong các tình huống xã hội hoặc trong mối quan hệ cá nhân

 Sợ bị từ chối, bị bối rối, bị chê cười

2.3.2 Rối loạn nhân cách phụ thuộc

 Phụ thuộc quá mức vào những người khác và cảm giác cần được chăm sóc

 Có những hành vi phục tùng, đeo bám lấy những người khác

 Sợ phải tự chăm sóc bản thân nếu phải ở một mình

 Thiếu tự tin, luôn đòi hỏi những lời khuyên hoặc sự an ủi động viên từ người khác mặc dù chỉ khi đưa ra những quyết định nhỏ

 Khó bắt đầu hoặc tiến hành những dự định cá nhân do thiếu tự tin

 Khó khăn khi từ chối người khác, sợ bị từ chối

 Luôn để lòng những sự đối xử thương hại hoặc chê trách từ người khác, mặc dù bên cạnh đó còn có nhiều sự đối xử khác nữa

 Thường cần ngay một mối quan hệ mới nếu như một mối quan hệ thân thiết cũ vừa chấm dứt

2.3.3 Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế

 Luôn bận tâm đến những tiểu tiết, thứ tự, luật lệ

 Theo chủ nghĩa hoàn hảo quá mức, đến mức gây ra những khó chịu khi không đạt được sự hoàn hảo, ví dụ như cảm thấy không thể hoàn thành một kế hoạch vì không đáp ứng được những tiêu chuẩn khắc nghiệt của chính bản thân.

 Ham muốn được kiểm soát mọi người, mọi việc, mọi tình huống và không có khả năng ủy quyền cho người khác làm

 Bỏ bê bạn bè hoặc những hoạt động vui vẻ bởi sự quá chú tâm đến công việc hoặc kế hoạch

 Khó khăn trong việc vứt bỏ những đồ đã hỏng hoặc những đồ vô giá trị

 Cứng nhắc và bảo thủ

 Không linh hoạt trong các quan niệm xử thế, đạo đức, luân lý

 Chi tiêu một cách quá dè xẻn, chi li

 Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế không đồng nghĩa với rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

Nguồn: Đàm Văn Đức

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *