BẪY THUCYDIDES: LIỆU HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC CÓ TRÁNH KHỎI CHIẾN TRANH?

Hơn 2400 năm trước, vị sử gia Hy Lạp Thucydides đã nhận định: “Chính sự trỗi dậy của Athens, và nỗi sợ về điều tương tự xảy ra ở Sparta, đã khiến chiến tranh [giữa hai thành bang này] là không thể tránh khỏi.” Điều Thucydides muốn nhắc đến là nỗi hiểm họa thường trực khi một thế lực trỗi dậy đối đầu với một thế lực đang thống trị, tương tự như Athens thách thức Sparta ở Hy Lạp cổ đại, hay Đế quốc Đức với Đế quốc Anh một thế kỷ trước. Kết cục hầu như đều vô cùng thảm khốc cho cả hai bên. Trong 500 năm qua, 12 trên 16 trường hợp như vậy đều dẫn đến chiến tranh. Nếu muốn tránh những cuộc đối đầu trực diện như thế, các bên đều phải có những sự điều chỉnh và thay đổi lớn trong thái độ cũng như hành động. Vậy thì, câu hỏi quan trọng trong thời đại này là, liệu Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể làm được điều đó và tránh được một cuộc đối đầu thảm khốc?

Trong những cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo 2 nước, chiến tranh không nằm trong các vấn đề được nhắc tới, vì chiến tranh vừa khó xảy ra cũng như không được coi là một quyết định khôn ngoan. Vậy nhưng hơn 100 năm trước, Thế chiến I đã nhắc nhở chúng ta về khả năng tự lừa phỉnh bản thân của nhân loại. Khi chúng ta cho rằng chiến tranh không thể xảy ra, liệu đó có phải là thực tế, hay chỉ là những gì tâm trí ta chấp nhận. Trong đám tang của vua Anh Edward VII, Theodore Roosevelt đã hỏi Hoàng đế Đức Wilhelm liệu ông có cân nhắc trì hoãn cuộc chạy đua hải quân giữa Anh và Đức, và Wilhelm đã trả lời rằng Đế quốc Đức chắc chắn quyết tâm có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định chiến tranh giữa Anh và Đức là “không thể tưởng tượng được”, vì “tôi hầu như được nuôi dưỡng ở Anh, tôi cảm thấy chính mình phần nào cũng là một người Anh. Sau nước Đức, tôi quan tâm đến Anh nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác,” và nhấn mạnh, “tôi yêu quý nước Anh”.

Dù vậy, bất kể xung đột khó tưởng tượng như nào, bất kể hậu quả có thể thảm khốc ra sao cho tất cả các bên, bất kể mối đồng cảm văn hóa, thậm chí là quan hệ họ hàng, giữa những người lãnh đạo có sâu sắc ra sao, bất kể các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế – tất cả những điều này cũng không ngăn được chiến tranh nổ ra vào năm 1914. Trong 12/16 trường hợp được phân tích, kết cục đều là chiến tranh.

Khi nước Pháp nổi lên và thách thức sự thống trị trên biển của Anh cũng như cán cân quyền lực ở châu u, nước Anh đã hủy diệt hạm đội của Napoleon Bonaparte năm 1805 và sau đó đánh bại ông ta ở Tây Ban Nha và Waterloo. Khi Thủ tướng Phổ Otto van Bismarck muốn thống nhất nước Đức đang trỗi dậy thì một công cụ hữu hiệu để kêu gọi sự ủng hộ cho mục tiêu đó của ông là cuộc chiến tranh với kẻ thù chung của các tiểu bang – Pháp. Khi cuộc cải cách Minh Trị, hay Minh Trị Duy Tân đã hiện đại hóa nền kinh tế và quân sự Nhật Bản, thách thức tầm ảnh hưởng của nhà Thanh và nước Nga ở Đông Á, hậu quả là những cuộc chiến tranh mà Nhật Bản đều là kẻ chiến thắng.

Mỗi cuộc chiến, dĩ nhiên, đều có nhiều nguyên nhân và ngòi nổ khác nhau, nhưng vẫn có thể thấy điểm chung là sự tồn tại của quốc gia nổi lên và quốc gia thống trị. Khi phân tích xung đột giữa Athens và Sparta, sử gia Thucydides đã chỉ ra hai động lực chính: một mặt, là sự gia tăng quyền lực, nhận thức được tầm quan trọng của mình và đòi hỏi có tiếng nói lớn hơn của nước trỗi dậy; mặt khác là sự sợ hãi, bất an, và quyết tâm duy trì tình trạng bấy giờ của nước thống trị. Athens sau hơn nửa thế kỷ đã trở thành nền văn minh tiên phong, gặt hái những thành tựu trong triết học, lịch sử, kịch nghệ, kiến trúc, nền dân chủ và sức mạnh hải quân. Tất cả đã khiến Sparta kinh ngạc, vì trong một thế kỉ thành bang này đã nắm sức mạnh chủ đạo trên bán đảo Peloponnese (Hy Lạp). Theo Thucydides, vị trí thách thức của Athens là hoàn toàn dễ hiểu. Khi tầm ảnh hưởng của thành bang mở rộng, sự tự tin, sự nhận thức về những bất công trong quá khứ, sự nhạy cảm trước những tình huống thiếu tôn trọng, cũng như sự kiên quyết đòi xem xét lại những sắp đặt trước đó để phản ánh hiện thực mới về quyền lực của Athens, tất cả cũng đều lớn dần theo. Và cũng hoàn toàn tự nhiên khi Sparta coi vị trí của những người Athens là vô lý, vô ơn, đe dọa đến hệ thống Sparta đã tạo lập nên mà nhờ đó Athens mới phát triển được. Bên cạnh đó, Thucydides cũng tập trung vào cách nhìn nhận những thay đổi của các lãnh đạo ở Athens và Sparta, và cách điều này đã dẫn tới mỗi bên thắt chặt quan hệ đồng minh với các thành bang khác nhằm hi vọng cạnh tranh quyền lực với bên kia. Nhưng chính mối quan hệ đồng minh này cũng phản tác dụng. Khi xung đột nổ ra giữa hai thành bang nhỏ hơn là Corinth và Corcyra, Sparta cảm thấy cần phải bảo vệ Corinth, buộc Athens phải đứng về phía còn lại, dẫn tới chiến tranh Peloponnese. Sau hơn 30 năm, Sparta trên danh nghĩa là người chiến thắng, nhưng cả hai bên đều bị tàn phá nặng nề, khiến Hy Lạp yếu ớt trước những người Ba Tư.

Trong thời đại này, những thách thức về địa chính trị [với Hoa Kỳ] không phải là các phần tử Hồi giáo cực đoan hay một nước Nga lại vùng dậy. Thay vào đó là ảnh hưởng của Trung Quốc lên trật tự quốc tế dẫn dắt bởi Mỹ. Ai cũng biết về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chưa bao giờ trong lịch sử có một quốc gia phát triển trên mọi khía cạnh nhanh như vậy. Năm 1980, GDP của Trung Quốc chỉ bằng 10% Hoa Kỳ có tính đến tỷ giá; xuất khẩu chỉ bằng 6%; dự trữ ngoại hối bằng 1/6. Năm 2014, GDP của Trung Quốc đã bằng 101% Hoa Kỳ; xuất khẩu bằng 106%; dự trữ ngoại hối gấp 28 lần. Năm 1980, nền kinh tế Trung Quốc còn nhỏ hơn Hà Lan. Năm 2014, chỉ phần gia tăng GDP của Trung Quốc đã bằng cả nền kinh tế Hà Lan.

Vậy thì liệu những lãnh đạo của Trung Quốc có thực sự cân nhắc việc thay thế Mỹ để trở thành quyền lực thống trị ở châu Á không? Liệu Trung Quốc có theo chân Nhật Bản và Đức để tạo ảnh hưởng một cách tích cực hơn lên trật tự thế giới mà Mỹ đã tạo ra trong 70 năm qua không? Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã trả lời cho những câu hỏi này: “Tất nhiên rồi, tại sao không … tại sao họ không muốn trở thành số 1 ở châu Á và sau này là thế giới?”. Trung Quốc có chấp nhận vị trí của mình trong một trật tự được thiết kế bởi Mỹ, ông trả lời rằng chắc chắn là không: “Trung Quốc muốn là Trung Quốc và được chấp nhận như vậy, chứ không phải là một thành viên danh dự của phương Tây.”

Người Mỹ vẫn luôn có thói quen chỉ bảo các nước khác nên học hỏi theo mình. Vậy thì thời điểm Hoa Kỳ bắt đầu trở thành một thế lực ở Tây bán cầu vào thập niên 1890, nước Mỹ đã hành xử như nào? Theodore Roosevelt chính là biểu tượng cho một quốc gia cực kỳ tự tin rằng 100 năm nữa sẽ là thế kỷ của người Mỹ. Trong hơn 1 thập kỷ từ năm 1895, Hoa Kỳ đã “giải phóng” Cuba; đe dọa buộc Anh và Đức chấp nhận vai trò của Mỹ trong tranh chấp ở Venezuela và Canada; hỗ trợ một cuộc nổi dậy tách Panama ra khỏi Colombia; nỗ lực lật đổ chính quyền Mexico được chống lưng bởi chính quyền Anh và các ngân hàng Anh. Trong hơn nửa thế kỷ sau đó, các lực lượng quân sự Mỹ đã can thiệp hơn 30 sự kiện để giải quyết các tranh chấp kinh tế và lãnh thổ theo hướng có lợi cho người Mỹ, hay loại bỏ những người đứng đầu mà họ cho là không chấp nhận được. Ví dụ như, khi chính phủ Colombia từ chối cho Mỹ thuê khu vực để xây kênh đào Panama, Mỹ đã tài trợ cho những người ly khai Panama, công nhận chính quyền Panama chỉ trong vài giờ sau khi tuyên bố độc lập, và gửi binh lính đến bảo vệ quốc gia mới này. Roosevelt đã biện hộ cho sự can thiệp của Hoa Kỳ là “hợp lý về mặt đạo đức và do đó hợp lý theo luật pháp”. Sau đó không lâu, Panama đã trao quyền “vĩnh viễn” cho Hoa Kỳ tại khu vực kênh đào Panama.

Khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu cuộc cải cách mở cửa năm 1978, ông đưa ra sách lược “giấu mình chờ thời”. Nhưng chính sách đó đã chấm dứt khi Tập Cận Bình xuất hiện, thông qua luật pháp bằng một hội đồng 7 người; tập trung sức mạnh chính trị dưới Đảng Cộng sản; nỗ lực chuyển hướng tập trung xuất khẩu sang tiêu thụ nội địa làm động lực tăng trưởng GDP; tham gia tích cực trên phương diện ngoại giao để tăng cường lợi ích quốc gia. “Giấc mơ Trung Hoa” của chủ tịch Tập Cận Bình cũng thể hiện mong ước sâu thẳm của hàng trăm triệu người dân Trung Quốc: không chỉ giàu có mà còn quyền lực. Cốt lõi trong văn hóa Trung Quốc là niềm tin rằng Trung Quốc là trung tâm thế giới. Hơn một thế kỷ yếu kém dẫn tới bị bòn rút và tủi hổ bởi thực dân phương Tây cũng như Nhật Bản. Dưới góc nhìn của Bắc Kinh, Trung Quốc giờ đây đã khôi phục lại vị trí chính đáng của nó, khi quyền lực của Trung Quốc đòi hỏi sự thừa nhận và tôn trọng lợi ích của quốc gia này. Bối cảnh đó đã dẫn tới nhiều câu hỏi hơn nữa: Trung Quốc có muốn tầm ảnh hưởng của mình ở Đông Á và Đông Nam Á kém hơn thứ mà Mỹ đã đòi hỏi ở khu vực Caribbean và Đại Tây Dương đầu thế kỉ 20; hay Mỹ sẽ chấp nhận chia sẻ với Trung Quốc sự thống trị ở Tây Thái Bình Dương mà Mỹ đã tận hưởng từ Thế chiến II?

Dù vậy, vẫn có những trường hợp mà các tình huống đối đầu như Hoa Kỳ và Trung Quốc không dĩ nhiên dẫn tới chiến sự. Nếu những người lãnh đạo để hai quốc gia lâm vào chiến tranh, họ sẽ không có quyền coi chúng như là điều không thể tránh khỏi khi đã không biết học hỏi từ quá khứ. Đưa mối quan hệ này tránh khỏi chiến tranh đòi hỏi mối quan tâm thường trực liên tục qua hàng tuần ở mức độ cao nhất từ cả hai nước, một sự thấu hiểu sâu sắc giữa hai bên, cũng như những thay đổi to lớn đến mức không tưởng trong thái độ và hành động từ cả cấp lãnh đạo lẫn công chúng.

Lược dịch từ bài báo The Thucydides Trap: Are the U.S. and China Headed for War? (2015) của Graham Allison – cựu giám đốc Trung tâm Khoa học và Quốc tế Belfer, Trường JOhn F. Kennedy, Đại học Havard

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *