Thứ ba, ngày 18/08/2026 18:30 GMT+7
Thùy Anh Thứ ba, ngày 18/08/2026 18:30 GMT+7
Cần chuyển từ việc cung cấp thông tin một cách bị động sang chủ động nhằm nâng cao chất lượng thông tin về cung- cầu lao động từ đó phát triển thị trường lao động hiện đại, đa dạng, hiệu quả.
Các trung tâm DVVL đang làm tốt việc cung cấp thông tin thị trường lao động
Trên đây là nhận định của các chuyên gia khi tham gia Tọa đàm: “Phát huy hiệu quả của chính sách Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) trong điều phối thông tin, phát triển thị trường lao động?” do Báo NTNN/Dân Việt, tổ chức vào sáng nay (18/8).
Chia sẻ tại tọa đàm, ông Lê Quang Trung – Nguyên phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm (Bộ Nội vụ) cho biết, Việt Nam triển khai chính sách Bảo hiểm thất nghiệp khá sớm, là quốc gia thứ 79 trên thế giới triển khai chính sách này và là nước thứ hai trong khu vực ASEAN thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.

Sau 17 năm triển khai, chính sách sớm đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động, người sử dụng lao động, thị trường lao động, đặc biệt là đối với công tác an sinh xã hội.
“Nếu nhìn lại có thể thấy số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp liên tục tăng qua các năm. Năm 2019, cả nước có khoảng 5,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Đến quý II/2026, con số này đã tăng lên khoảng 17,05 triệu người. Đây là sự gia tăng rất đáng kể, cho thấy chính sách ngày càng được người lao động và người sử dụng lao động quan tâm, tham gia”, ông Trung nói.
Bên cạnh đó, số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng rất lớn. Khoản trợ cấp này đã hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc làm, khi không có thu nhập, qua đó giúp họ giảm bớt khó khăn về kinh tế và ổn định cuộc sống. Ngoài ra lao động thất nghiệp còn được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề, được đóng BHYT. Đây là những chính sách rất quan trọng, giúp người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn và sớm quay trở lại thị trường lao động.
“Thời gian gua hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm trong cả nước đã đẩy mạnh hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm bằng nhiều hình thức khác nhau mặc dù luật không quy định cụ thể nhưng hoạt động này được các trung tâm cung cấp một cách chủ động và miễn phí cho người lao động. Tôi cho rằng đây là một điểm rất đáng ghi nhận”, ông Trung nói.

Thông qua quá trình thực hiện chính sách, trung tâm có thể nắm bắt khá cụ thể tình trạng của từng người thất nghiệp. Những thông tin này rất cụ thể, có tính cập nhật và có giá trị lớn đối với việc phân tích thị trường lao động.
“Cán bộ trung tâm dịch vụ việc làm sẽ gặp gỡ, tư vấn, thu nhận dữ liệu về người lao động từ đó tư vấn cho người lao động nên học nghề hay nên chuyển đổi sang một vị trí, ngành nghề khác phù hợp hơn. Nhiều người lao động thông qua thông tin thị trường lao động do trung tâm cung cấp đã chủ động kết nối với doanh nghiệp, tham gia các sàn giao dịch việc làm tại địa phương cũng như các hoạt động kết nối việc làm ở quy mô quốc gia”, ông Trung nói.
Như vậy, chính sách bảo hiểm thất nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động. Nó góp phần giúp thị trường lao động phát triển theo hướng lành mạnh, minh bạch, công khai, đồng thời hạn chế những rủi ro mà người lao động có thể gặp phải trong quá trình tìm kiếm việc làm.
Quan trọng hơn, khi có thông tin đầy đủ và chính xác, cơ quan quản lý nhà nước có thể nhìn thấy những biến động của thị trường lao động, từ đó có chính sách phù hợp hơn trong đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực.
Điều đó góp phần thực hiện một trong những khâu đột phá chiến lược mà Đảng đã xác định, đó là phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, cần nhìn nhận bảo hiểm thất nghiệp ở một phạm vi rộng hơn, không chỉ là chính sách an sinh mà còn là một công cụ hỗ trợ phát triển thị trường lao động và nguồn nhân lực.
Chuyển đổi từ cung cấp thông tin thị trường lao động thụ động sang chủ động
Ông Vũ Quang Thành – Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội thì cho rằng thời gian qua thay vì chỉ tập trung vào chi trả trợ cấp thất nghiệp các đơn vị đã chuyển sang tăng cường các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và kết nối việc làm cho người lao động.
Mục tiêu là xây dựng được một cơ sở dữ liệu sát với thị trường, gắn với thực tế, phản ánh được những biến động về ngành nghề, nhu cầu tuyển dụng và tình hình cắt giảm lao động. Qua đó, hệ thống thông tin có thể hỗ trợ đồng thời cả người lao động và người sử dụng lao động.
Trong quá trình thực hiện chính sách tư vấn, cán bộ trung tâm còn phân luồng người lao động ngay từ đầu. Mục tiêu là bảo đảm người lao động được tư vấn, định hướng để xác định rõ nhu cầu của mình: tiếp tục tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp hay tham gia đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề.
“Đặc biệt, đối với những người có nhu cầu nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động, cán bộ tư vấn có thể hỗ trợ chuyên sâu ngay từ thời điểm đầu. Nếu người lao động tìm được một công việc phù hợp, họ có thể sớm quay trở lại thị trường lao động thay vì chỉ tập trung vào việc hưởng trợ cấp thất nghiệp”, ông Thành nói.

Hình thức kết nối việc làm cũng ngày càng đa dạng. Ngoài tư vấn, giới thiệu việc làm thường xuyên, Trung tâm tổ chức các phiên giao dịch việc làm định kỳ, các phiên chuyên đề, các phiên dành cho từng nhóm lao động hoặc từng ngành nghề đặc thù và các phiên giao dịch việc làm trực tuyến kết nối với các tỉnh, thành phố.
Việc đa dạng hóa các hình thức này tạo thêm nhiều lựa chọn cho người lao động, giúp họ tiếp cận nhiều doanh nghiệp, nhiều vị trí việc làm và nhanh chóng tìm được công việc phù hợp với kỹ năng của mình
Cùng với những hoạt động trực tiếp, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội cũng đẩy mạnh chuyển đổi số trong việc tiếp nhận hồ sơ trên cổng dịch vụ công đến tư vấn trực tuyến, cung cấp thông tin việc làm và hỗ trợ kết nối giữa người lao động với doanh nghiệp, các hoạt động ngày càng được thực hiện trên môi trường số.
“Có thể nói, quá trình triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận thiên về hỗ trợ khi người lao động đã mất việc sang cách tiếp cận chủ động hơn, trong đó tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin và kết nối việc làm được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng”, ông Thành nói.
Ông Thành cũng cho biết: Để thực hiện tốt việc cung cấp và điều phối thông tin thị trường lao động, trung tâm đã triển khai theo 4 bước.
Thứ nhất là thu thập thông tin cả về cung lao động và cầu lao động, trong đó có nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
Thứ hai là tổng hợp, phân tích và đánh giá dữ liệu được phân loại theo trình độ, kỹ năng, vị trí việc làm và nhiều tiêu chí khác. Đây là quá trình xử lý dữ liệu để phục vụ cho hoạt động kết nối giữa người lao động và doanh nghiệp.
Thứ ba là tổ chức các hoạt động giới thiệu và kết nối việc làm thông qua các phiên giao dịch việc làm, hoạt động tư vấn và các hình thức kết nối khác nhằm đưa người lao động đến gần hơn với doanh nghiệp.
Thứ tư là xây dựng các sản phẩm thông tin thị trường lao động từ dữ liệu đã được tổng hợp và phân tích để cung cấp cho người lao động, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan.
Mặc dù đã có nhiều giải pháp trong việc thực hiện, nhưng theo ông Thành, việc cung cấp dữ liệu cho thị trường lao động vẫn còn một số khó khăn.
Trước hết là dữ liệu hiện nay chưa thực sự liên thông đầy đủ giữa các cơ quan, đơn vị. Để có được nguồn thông tin toàn diện hơn, cần có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cơ quan và có cơ chế thu thập, chia sẻ dữ liệu đồng bộ.
Một hạn chế khác là tốc độ cập nhật dữ liệu. Khi dữ liệu được cập nhật chưa kịp thời thì việc đưa ra những cảnh báo về thị trường lao động cũng có thể bị chậm.
“Ví dụ, chúng ta cần biết ngành nghề nào đang thiếu lao động, ngành nghề nào đang có xu hướng cắt giảm lao động, nhóm ngành nào có nhu cầu tuyển dụng lớn trong thời gian tới. Nếu dữ liệu chưa được cập nhật thường xuyên thì việc cảnh báo sẽ có độ trễ”, ông Thành lấy ví dụ.
Từ thực trạng trên, 2 chuyên gia cho rằng cần chuyển từ kết nối đơn thuần sang điều tiết chủ động trong việc cung ứng thông tin cho thị trường lao động.
Đặc biệt, cần nâng cao năng lực phân tích và dự báo thị trường lao động cho các đơn vị. Không chỉ dự báo ngắn hạn, trung hạn mà từng bước phải hướng tới dự báo dài hạn để có thể chủ động ứng phó với những biến động về công nghệ, kinh tế và nhu cầu nhân lực.
Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ nhiều hơn và mở rộng các kênh số để người lao động, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn.
Ông Trung một lần nữa khẳng định: “Thông tin thị trường lao động phải được nhìn nhận ở vị trí hết sức quan trọng, thậm chí có tính quyết định trong quá trình điều phối thị trường. Không có thông tin thị trường lao động thì chúng ta rất khó thực hiện tốt bất kỳ chính sách nào. Nếu không nắm chắc đối tượng, không biết thị trường đang cần gì, người lao động đang có gì thì việc xây dựng chính sách sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn”.