Chủ nhật, ngày 31/05/2026 13:30 GMT+7
Trần Thị Khánh Huyền, Lớp 10A5, Trường THPT Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh Chủ nhật, ngày 31/05/2026 13:30 GMT+7
Em yêu văn chương, em yêu nghề giáo và chính tình yêu ấy là nguồn động lực thôi thúc em dám ước mơ trở thành một giáo viên Ngữ văn. Em ước mơ được trở thành một người giáo viên, một người đứng trên bực giảng với biết bao nhiệt huyết.
16 năm được gia đình che chở và định hướng, em từng nghe vô số lời dạy bảo: “Con phải học ngành này, ngành này hot lắm!”, “Con học được như thế thì học trường này sau ra con kiếm được nhiều tiền lắm”,… và có lẽ câu nói em nghe được nhiều nhất lại chính là: “Đừng theo nghề giáo, khổ lắm con!”.
Em chẳng biết vì sao lại như vậy, nhưng đến bây giờ em mới nhận ra, chính tuổi 16 này lại là độ tuổi nói cho em biết con đường mà mình chọn lựa. Rằng em muốn “thành thật” với bản thân mình, muốn nói rằng: Em ước mơ được làm một cô giáo, một người giáo viên đứng trên bục giảng.
Em chưa bao giờ cảm thấy bản thân khát khao làm được một điều gì đó thật lòng, chỉ đến khi em mong muốn được làm một người giáo viên. Mẹ em cũng là một giáo viên mầm non, em biết công việc của mẹ được kính trọng rất nhiều, nhận được tình yêu thương, sự quý mến và hơn hết là cả sự ngưỡng mộ. Nhưng phải chăng đó là tất cả mọi thứ về nghề giáo?
Em biết rõ để nhận được sự kính trọng ấy, mẹ em đã phải trải qua từng đêm soạn giáo án, sửa từng bài luận, ghi chép từng kinh nghiệm trong suốt hơn hai mươi năm ròng rã. Chắc cũng vì vậy mà ai cũng khuyên em rằng nghề giáo rất khó, rất vất vả khi có mẹ em như một “nhân chứng sống” cho sự vất vả ấy.
Cũng trong mười lăm năm ấy, em sống với một tâm lí về một ngành nghề cao quý: “Nghề giáo viên rất khổ cực, chắc bản thân mình sẽ không hợp” hoặc không phải không hợp, mà là em luôn đặt ra cho mình một vùng an toàn không dám thử nghĩ về nghề sư phạm.

Tuổi 16 – bước ngoặt của chính cuộc đời em, khi trái tim em đã thôi bị chi phối, khi lí trí em đã phần nào suy nghĩ nghiêm túc hơn. Em không còn cân đo đong đếm giữa những gợi ý của mọi người, không còn mông lung giữa biển ngành nghề. Có lẽ em chưa bao giờ đặt cho bản thân một ước mơ nào hoàn chỉnh, em chỉ sống với những mục tiêu của mọi người xung quanh.
Những năm học Tiểu học, em tham gia thi Olympic trực tuyến, IOE trực tuyến và vô số cuộc thi nhưng sau cùng em lại chưa bao giờ thật sự đam mê thử sức với bất kì cuộc thi nào. Hay kể cả khi học THCS, chính em cũng từng phân vân giữa việc lựa chọn môn học phù hợp với bản thân. Khi may mắn đạt giải Nhất cấp Trường, cấp Thị xã và giải Ba cấp Tỉnh môn Ngữ văn, chính em cũng tự hỏi: “Phải chăng mình yêu thích môn Văn nhiều hơn mình nghĩ”. Đó cũng là giây phút em bắt đầu nuôi một ước mơ nhỏ bé, một suy nghĩ giản đơn: “Liệu có một ngày bản thân sẽ truyền động lực học văn đến mọi người xung quanh, bằng cách nào nhỉ? Viết sách, viết bản thảo, hội thảo, hay chính mình trở thành một giáo viên Ngữ văn…?”. Bởi “Đời vì đời người chỉ sống có một lần…”, em muốn thử một lần mơ ước, một lần thử sức và can đảm.
Bản thân em chưa bao giờ dám nghĩ về một điều gì mới, dám suy nghĩ một cái gì táo bạo khác với người xung quanh, vùng an toàn ấy chẳng biết từ bao giờ đã in sâu trong tâm trí em. Và chính Khánh Huyền của những năm ấy cũng chưa bao giờ có suy nghĩ sẽ thử một lần bước ra khỏi vòng tròn ấy. Vậy mà chính tình yêu với Văn đã khiến em dám một lần suy nghĩ khác, cô gái của năm 16 tuổi ấy đã thử nghĩ về tương lai mà bản thân muốn trở thành: trở thành người giáo viên với lửa nghề nhiệt huyết, với mong ước cầm phấn gửi từng tình yêu văn xuôi lên bảng đen. Chính giây phút ấy là khoảnh khắc mà trái tim em lỡ một nhịp, đập nhanh hơn khi tưởng tượng khung cảnh bản thân trở thành người giáo viên được đứng trên bục giảng.
Tuy nhiên mới chỉ là một suy nghĩ vu vơ vào năm mười lăm tuổi, khi bản thân giành được một số thành tựu nhỏ môn Văn. Suy nghĩ ấy đã gần như biến mất khi em trải qua sự thất bại đầu tiên khi bản thân không thể bước chân vào môi trường chuyên văn mong ước.
Có lẽ đó chính là sự thật phũ phàng đầu tiên mà bản thân em phải trải qua, chính sự kiện ấy khiến em cảm giác bản thân lại trở lại sự thất bại vốn có, sự mông lung mà bản thân không thể nào bước ra được. Đam mê với văn chương của em vẫn còn, tuy nhiên em lại cảm thấy như thiếu đi một phần gì đó như việc trái tim em đã ít xao xuyến khi một lần nữa nhắc đến văn chương và nghề giáo.
Nhưng đời người còn có bao nhiêu lần tiếc nuối, bao nhiêu lần được thử sức mình, em vẫn nhớ câu nói xa xưa của cổ nhân từng dạy: “Ngọc còn có vết, nhân vô thập toàn”. Chẳng ai yêu cầu ta phải toàn vẹn, phải hoàn hảo, và chính em cũng tự chấp nhận bản thân còn một số khiếm khuyết, một số lỗi nhỏ, đôi lần chịu vấp ngã để đứng lên. Chính vì điều ấy mà môi trường THPT lại trở thành bước đệm khi em tiến bước trên con đường văn chương, em được gặp gỡ những người bạn có chung niềm đam mê mãnh liệt với Ngữ văn, được nhận sự dạy dỗ, chỉ bảo của giáo viên bồi dưỡng.
Chính khi ấy em mới biết được trong tâm trí của bản thân luôn tồn tại khái niệm “meaningful” (có ý nghĩa), nghĩa là chính bản thân em muốn biến cuộc đời mình trở nên ý nghĩa, trở nên xứng đáng và vì vậy em mới tìm đến văn chương. Thành quả đáng trân quý mà em gặt hái được sau bao hành trình cố gắng với giải Nhì đầy danh giá trên tay chính là một động lực to lớn khiến em lại lần nữa can đảm nghĩ về nghề giáo viên.

Chỉ đến lúc này, tuy em chưa đủ lớn để đưa ra những quyết định quan trọng, cũng chưa thật sự trải qua nhiều va vấp cuộc đời nhưng em lại đã có cho mình một trái tim tràn đầy chính kiến hơn.
Em muốn lan toả tình yêu văn chương ấy đến với cộng đồng, đến với mọi người xung quanh, muốn tình yêu văn chương được thắp sáng và bền bỉ. Em muốn một lần được thử sức, dấn thân như mẹ của mình, dẫu biết khó khăn, khó nhọc, dẫu rằng con đường phía trước sẽ không mấy đơn giản như mình nghĩ. Độ tuổi mà em cho rằng không còn trẻ con như năm mười bốn tuổi, cũng chưa trưởng thành hẳn như năm mười tám tuổi, những tuổi 16 lại là độ tuổi em dám khẳng định lập trường của mình.