Thứ hai, ngày 22/06/2026 06:30 GMT+7
Trần Hoàng Đoan Trang, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM Thứ hai, ngày 22/06/2026 06:30 GMT+7
Có những ngày mai bị trói chặt bởi quá khứ, nơi nhiều người tin rằng số phận mình đã được định đoạt từ khi vừa cất tiếng khóc chào đời.
Và có những ngày mai được thai nghén từ một niềm tin cay đắng: rằng một cuộc đời rực rỡ là đặc quyền của những đứa trẻ sinh ra dưới “ánh đèn”, còn những đứa trẻ lớn lên trong “bóng tối” thì chỉ nên bằng lòng với một hiện thực nhỏ bé.
Ngày mai trong mắt em, đã từng như thế.

Nếu sau bao lần giông tố cuộc đời tạt thẳng vào cuộc đời mình những cơn mưa buốt lạnh, em không học được cách giữ chặt hy vọng và liều mình bước tiếp.
Gia đình em thuộc hộ cận nghèo ở một vùng quê Hà Tĩnh, nơi mỗi khi những cơn bão dữ dội quét qua, tài sản của nhiều gia đình lại bị cuốn ngược về con số không. Từ những ngày bé, mẹ vẫn thường dặn hai chị em rằng: “Học là con đường duy nhất để thoát khổ, thoát nghèo và thoát khỏi bóng tối của cuộc đời bố mẹ”. Cái bóng tối ấy không chỉ đổ xuống từ cái nghèo khó về vật chất, mà còn là gam màu u ám phủ kín tuổi thơ em bằng bạo lực gia đình. Gánh nặng áo cơm buộc mẹ phải làm lụng từ sáng sớm đến tối mịt để kiếm sống. Còn bố em, sau chấn thương cột sống từ công việc phụ hồ đã không thể tiếp tục lao động tay chân. Ông lùi về làm việc nhà, và cũng từ đó những cơn say xuất hiện ngày một thường xuyên hơn.
Trong những cơn cuồng nộ của bố, thứ hằn in trong chúng em không chỉ là những vết thương trên cơ thể mẹ, là cảm giác run lên vì sợ hãi, là lời đe dọa sẽ đốt hết sách vở nếu chúng em còn bảo vệ mẹ. Mà còn là những định kiến lặp đi lặp lại như một lời nguyền về “trọng nam khinh nữ”, “tốt mái hại trống”, “con gái mà cắm đầu học, dám hơn chồng thì kết cục cũng như mẹ mày thôi”. Giữa những mảnh vỡ của một mái nhà không trọn vẹn, em thực sự đã tự hỏi rằng liệu mình có quyền được mơ về một ngày mai khác chăng?
Cho đến khi em vừa lên cấp hai, bố gặp tai nạn giao thông, hung thủ bỏ trốn mà không chịu trách nhiệm. Biến cố ấy giáng xuống như một cơn lốc cuốn sạch phòng tuyến cuối cùng vốn đã quá mong manh của gia đình. Chấn thương tiểu não nghiêm trọng khiến bố vĩnh viễn không thể sinh hoạt như người bình thường. Chi phí phẫu thuật lên tới hàng trăm triệu đồng. Nợ nần chồng chất. Mẹ chạy vạy khắp nơi vay mượn, để rồi chính mẹ cũng đổ bệnh và phải bước vào một cuộc phẫu thuật khác.

Mùa hè năm ấy, hai đứa trẻ non nớt buộc phải bỏ lại phiên bản vô tư cuối cùng. Thay vì nghĩ về việc vui chơi những ngày nghỉ hè, chúng em lại nghĩ về cách đẩy xe lăn và chăm sóc người bệnh. Con đường dẫn vào khoa hồi sức cấp cứu dần trở thành con đường quen thuộc đến ám ảnh – nơi không chỉ lưu lại dấu chân của hai chị em, mà còn lưu lại cả những tháng ngày khiếp sợ và đau đớn trong những lần chứng kiến bố cố gắng tự chấm dứt cuộc đời mình.
Rồi đến một ngày, em nhận ra bóng tối kia không còn chỉ bao quanh gia đình mình nữa. Nó đã ở bên trong em. Sức khỏe tinh thần của em suy kiệt đến mức tưởng như cái hiện thực tối tăm ấy đã nuốt trọn linh hồn mình. Những chỉ số rối loạn tâm lý của em vượt ngưỡng báo động suốt nhiều năm – điều mà có lẽ đến bây giờ, nếu mẹ đọc được những dòng này, thì cho phép con xin lỗi, vì đã có những giây phút không trân trọng hình hài mà mẹ đã đánh đổi biết bao đau đớn để sinh ra.
Nhớ lại những tháng ngày khó khăn ấy, có lẽ hai điều lớn nhất khiến em không chọn từ bỏ, là em không muốn trái tim mẹ lại bị bóp nghẹt như mỗi lần nghe tin dữ về bố; và quan trọng hơn cả là niềm tin vào giáo dục – như lời mẹ nói – một ngày mai không xa sẽ cứu vớt cuộc đời em.
Và rồi khi chỉ cách ngày thi cuối cấp đúng một tháng, trong khi nhiều bạn đã được định hướng và chuẩn bị từ lâu, thì Chuyên trong em vẫn hoàn toàn là một tờ giấy trắng. Em sợ mình không theo kịp các bạn ở thành phố, sợ những lời nói “thi chuyên tốn kém lắm”, “chuyên không dành cho con nhà nghèo” sẽ trở thành sự thật. Thế nhưng điều kéo em đến lớp mỗi ngày, là em thực sự yêu thích Sử. Em say mê những điều cô giảng và chưa bao giờ cảm thấy khô khan khi học Sử.

Đặt cược số phận mình với 800.000 đồng học phí, em chỉ ngủ bốn tiếng và đều đặn đi hơn hai mươi cây số mỗi ngày để tới lớp. Và rồi ván cược ấy đã thắng. Em trở thành Á khoa tuyển sinh lớp chuyên Sử. Niềm vui ấy như một tia sáng đầu tiên xuyên qua những năm tháng u tối của gia đình, thắp lại trong em niềm tin mãnh liệt hơn vào tri thức, vào tương lai và vào chính bản thân mình.
Với tất cả lòng biết ơn của mình, em tự hứa với lòng sẽ thật trân trọng cơ hội ấy và sẽ hết mình trong cả việc học lẫn hoạt động ngoại khóa. Niềm đồng cảm sâu sắc và khao khát được nâng bước các em nhỏ khó khăn bằng lòng nhân ái và tri thức đã thúc đẩy em tham gia nhiều hoạt động về tình nguyện và giáo dục trên khắp cả tỉnh, từ làng trẻ mồ côi, các trung tâm khuyết tật, cho đến sáng lập ra “Xuân ấm” – một dự án bán lì xì gây quỹ cho các em học sinh dân tộc thiểu số có cái tết ấm no hơn.
Tuy nhiên do căn bệnh đau đầu mãn tính – bắt nguồn từ những áp lực và cú sốc quá sớm từ thời ấu thơ, quá trình ôn thi căng thẳng đã khiến em phải nhập viện điều trị trong cả 2 lần học đội tuyển quốc gia.
Niềm tủi thân vì sức khỏe và điều kiện học tập từng khiến nỗi sợ thất bại lớn dần trong em. Thế nhưng ký ức về ngày đầu tiên đến xem trường cấp 3 đã hằn in và kéo em bước tiếp: Hôm ấy, dù đã đi lạc hơn hai tiếng giữa trời nắng nóng, hai mẹ con vẫn ngắm nhìn mọi ngóc ngách trong ngôi trường ấy như ngắm một vì sao xa. Mẹ đã xuýt xoa trước những lớp học có hai cái điều hoà, và ước ao cho em được ngồi học ở đó thì đỡ mệt biết mấy. Mẹ đã đứng rất lâu ngước nhìn bảng vàng vinh danh những học sinh tiêu biểu của trường – nơi chỉ dành cho các học sinh đạt từ giải Nhì cấp quốc gia đến quốc tế.

Cho đến cuối cấp, em đã chọn ngành nghiên cứu giáo dục vì tin rằng giáo dục đã thực sự thay đổi số phận mình. Em thực sự khát khao có thể học hỏi những chính sách tiến bộ về giáo dục bền vững, về những phương pháp giảng dạy không chỉ trao kiến thức – mà còn trao cả nhiệt huyết, niềm tin, và quyền được ước vọng những điều to lớn và đẹp đẽ cho mọi trẻ em trên đời.
Thế nhưng trái lại, gần như tất cả mọi người xung quanh đều muốn em học sư phạm và kịch liệt phản đối lựa chọn của em. “Nhà nghèo thì thì mơ ước xa vời cái gì”, “Bố mẹ mày như thế thì học sư phạm may ra mới lấy được chồng”, “Nghỉ học mà đi làm có ích hơn đấy”.

Giây phút ấy, em đã nghẹn lại. Và sợ hãi.
“Sợ một ngày thực tế quá đói khát, bọn trẻ sẽ phải ăn luôn cả những giấc mơ”.
Nhưng rồi vượt lên tất cả định kiến, mẹ đã ôm chặt lấy em, mắt đỏ au, nghẹn ngào rằng: “Hãy cứ đi đến nơi mà con có thể dang rộng đôi cánh của mình”. Nước mắt cứ thế ứa trào trong tiếng nức nở. Khoảnh khắc ấy, em đã hiểu rằng điều quý giá nhất mẹ cho em không phải tiền bạc, cũng không phải một con đường bằng phẳng.
Mà điều quý giá nhất mẹ đã trao cho em là quyền được ước mơ, và quyền được trở thành chính mình.
Em bắt đầu lao vào ôn thi và chỉ còn nửa năm sau khi vừa trở về từ đội tuyển, nhưng em hiểu rõ chỉ như vậy mới đủ điều kiện xét học bổng – mới có lối thoát để em có thể viết tiếp con đường học vấn của mình.
Và rồi khi khép lại chặng hành trình thật đặc biệt ở Chuyên, em đã có thể dẫn mẹ đi xem một tấm bảng vinh danh mới.
Nơi đó giờ đây đã có thêm con của mẹ.
Có cả nụ cười, và giọt nước mắt đầy tự hào của mẹ nữa.


Giờ đây khi bước lên một chặng hành trình mới:
Ngày mai trong mắt em là một thế giới mà giáo dục không chỉ là mũi nhọn cần phát triển, mà còn là nguồn sức mạnh chữa lành những vết nứt của xã hội – từ nghèo đói, thiên tai, bạo lực gia đình, cho đến những bất bình đẳng đang âm thầm lấy đi cơ hội của bao nhiêu đứa trẻ.
Ngày mai trong mắt em là một thời đại không còn những lời thổn thức đầy xót xa về “những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng bị áo cơm ghì sát đất” (Sống mòn – Nam Cao) bởi giáo dục đã thực sự trở thành thứ vũ khí hàng đầu mà con người lựa chọn để chiến thắng nghịch cảnh.
Ngày mai trong mắt em là nơi mọi đứa trẻ đều được tự do dang rộng đôi cánh của mình: không chỉ để bay – mà còn để chở che – nâng đỡ và mang những làn gió tinh hoa của thời đại về làm giàu đẹp thêm bầu trời Tổ quốc.
Và ngày mai trong mắt em không chỉ là hình hài của tương lai. Đó còn là lời tri ân dành cho những người đã không ngừng nâng đỡ em bằng lòng tốt và niềm tin. Là lời hứa danh dự với cô bé năm nào từng ngồi co ro trong góc nhà giữa tiếng khóc và những trận đòn roi:
rằng hôm nay sẽ không chọn từ bỏ chính mình
sẽ sẵn sàng dấn thân,
không ngại cất cánh,
và sẽ không bao giờ bỏ cuộc.
Cuộc thi viết “Ngày mai trong mắt em” do Báo điện tử Dân Việt/Báo Nông thôn Ngày nay được phát động từ ngày 5/3 và kết thúc nhận bài vào ngày 10/6. Do số lượng bài dự thi lớn, Ban Tổ chức cần thêm thời gian để làm việc khách quan, công tâm và lựa chọn kỹ lưỡng các tác phẩm chất lượng. Vì vậy, thời gian tổ chức lễ trao giải được điều chỉnh lùi so với dự kiến ban đầu (cuối tháng 6) sang ngày 17/7.
Danh sách các bài viết lọt vòng chung khảo sẽ được đăng tải trên Báo điện tử Dân Việt và Fanpage Cuộc thi viết “Ngày mai trong mắt em” tại địa chỉ www.facebook.com/cuocthivietngaymaitrongmatem.
Về cơ cấu giải thưởng, Ban Tổ chức Cuộc thi viết “Ngày mai trong mắt em” thông báo, ngoài hệ thống giải chính gồm:
1 giải Nhất trị giá 20 triệu đồng
2 giải Nhì mỗi giải trị giá 15 triệu đồng
3 giải Ba mỗi giải trị giá 12 triệu đồng
10 giải Khuyến khích mỗi giải 1 laptop thương hiệu Dell trị giá 10 triệu đồng
5 giải dành cho các nhân vật tiêu biểu trong các bài viết mỗi giải 5 triệu đồng
Ban Tổ chức quyết định bổ sung thêm 20 giải chuyên đề, được chia thành 4 hạng mục, mỗi giải trị giá 3 triệu đồng, gồm có:
“Bài viết truyền cảm hứng nhất”: Dành cho 5 bài viết tạo động lực sống, học tập mạnh mẽ, có câu chuyện vượt khó xúc động.
“Bài viết sáng tạo”: Dành cho 5 bài viết có cách kể chuyện mới lạ, giàu hình ảnh, trình bày đẹp ấn tượng.
“Bài viết được yêu thích”: Dành cho 5 bài viết hay, có lượt tương tác, chia sẻ tốt trên Fanpage Cuộc thi viết Ngày mai trong mắt em và số lượt đọc cao trên Báo điện tử Dân Việt.
“Tập thể cống hiến”: 5 giải Tập thể xuất sắc cho các trường/lớp có số lượng bài dự thi nhiều nhất.