Thứ tư, ngày 17/06/2026 18:00 GMT+7
Thùy Anh Thứ tư, ngày 17/06/2026 18:00 GMT+7
Khi trục lợi chính sách, lao động có thể bị dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, bị truy thu tiền đã hưởng, thậm chí là đối mặt với xử phạm hành chính, hoặc bị khởi tố hình sự… tuy nhiên, việc xử lý các trường hợp trục lợi cũng không hề dễ dàng.
Có hay không việc lao động thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn tới trục lợi chính sách?
Theo bà Vũ Thị Thanh Liễu – Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Hà Nội, quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) trung tâm tiếp nhận và từng gặp nhiều trường hợp lao động trục lợi chính sách BHTN. Tuy nhiên, hiện nay chưa có thống kê chính thức và đầy đủ để xác định bao nhiêu trường hợp hưởng bảo hiểm thất nghiệp sai quy định là do thiếu hiểu biết, bao nhiêu trường hợp là cố tình gian lận hoặc trục lợi chính sách.
Tuy nhiên, từ thực tiễn giải quyết hồ sơ tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, bà Liễu nhận thấy phần lớn người lao động khi bị phát hiện hưởng sai quy định và phải hoàn trả tiền trợ cấp đều cho rằng nguyên nhân xuất phát từ việc không nắm rõ quy định của pháp luật. Nhiều người chia sẻ rằng họ không biết khi đã có việc làm thì phải thông báo cho cơ quan chức năng hoặc không biết mình không còn đủ điều kiện tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Không ít trường hợp sau khi bị thu hồi trợ cấp đã đề nghị cơ quan chức năng xem xét bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn lại để có cơ hội hưởng chế độ trong tương lai. Tuy nhiên, cơ quan thực hiện chính sách không thể xử lý khác với quy định của pháp luật. Khi đã có đầy đủ căn cứ, hồ sơ và tài liệu chứng minh người lao động có việc làm nhưng vẫn hưởng trợ cấp thất nghiệp thì các biện pháp xử lý phải được thực hiện theo đúng quy định.
“Trên thực tế, việc phát hiện các trường hợp hưởng sai quy định hiện nay phần lớn được thực hiện thông qua quá trình đối chiếu dữ liệu giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và Trung tâm Dịch vụ việc làm. Đặc biệt, từ khi người lao động được phép nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, cán bộ trung tâm không còn nhiều cơ hội tiếp xúc trực tiếp để tư vấn hoặc trao đổi với người lao động như trước đây”, bà Liễu nói.
Cũng theo bà Liễu, có những trường hợp người lao động nộp hồ sơ trực tuyến, được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định. Tuy nhiên, khi danh sách được chuyển sang cơ quan Bảo hiểm xã hội để thực hiện chi trả thì cơ quan bảo hiểm phát hiện người lao động đã có việc làm mới và đang tham gia bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp khác. Khi đó, hồ sơ sẽ được chuyển ngược trở lại để cơ quan chức năng xác minh, xử lý.
Trong quá trình làm việc, nhiều người lao động giải trình rằng họ đã ký hợp đồng lao động mới nhưng không biết phải khai báo hoặc không hiểu rõ quy định về chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Điều này khiến cơ quan thực hiện chính sách phải mất nhiều thời gian để xác minh, thông báo, thu hồi tiền trợ cấp đã chi trả và hoàn tất các thủ tục liên quan.
Sau khi hoàn trả số tiền hưởng sai quy định, người lao động mới có thể hoàn thiện các thủ tục tiếp theo liên quan đến bảo hiểm xã hội hoặc các chế độ khác theo quy định.
Từ góc độ thực tiễn, rất khó để xác định rạch ròi đâu là trường hợp vô tình vi phạm và đâu là trường hợp cố ý trục lợi. Ranh giới giữa hai nhóm này khá mong manh và việc đánh giá phải dựa trên hồ sơ, tài liệu cũng như kết quả xác minh cụ thể của từng trường hợp. Tuy nhiên, khi được hỏi, hầu hết người lao động đều cho rằng mình vi phạm do chưa hiểu hoặc chưa nắm rõ quy định của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Như bà Liễu vừa chia sẻ, có rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến hành vi trục lợi bảo hiểm thất nghiệp. Có ý kiến cho rằng, nếu hệ thống dữ liệu lao động việc làm và bảo hiểm xã hội được kết nối liên thông, thì việc một người vừa có việc làm vừa hưởng trợ cấp lẽ ra phải được phát hiện ngay từ đầu. Thưa TS Phạm Ngọc Toàn, ông có tán thành với nhận định này không? Và hiện nay còn những “khoảng trống” nào trong quản lý đang bị lợi dụng?
“Khoảng trống” trong việc giám sát, phát hiện trục lợi chính sách BHTN
TS Phạm Ngọc Toàn – Giám đốc Trung tâm Thông tin Phân tích dự báo chiến lược và dịch vụ công, thuộc Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ cho rằng để hạn chế tình trạng trục lợi, xóa “khoảng trống” trong việc phát hiện chính sách, cần phải hoàn thiện hệ thống dữ liệu lao động việc làm và bảo hiểm xã hội.
“Đây là một điểm cực kỳ quan trọng. Về mặt nguyên tắc, khi hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ quan lao động liên thông, việc kiểm soát chắc chắn sẽ tốt hơn”, ông Toàn nói.
Tuy nhiên, ông Toàn cũng cho rằng thực tiễn lại phức tạp hơn nhiều và đang tồn tại ba “khoảng trống” lớn. Một là độ trễ về dữ liệu: Khi người lao động quay lại làm việc, doanh nghiệp có thể chậm trễ trong việc cập nhật thông tin lên hệ thống, hoặc thông tin giữa các bên chưa đồng bộ kịp thời, tạo ra độ trễ nhất định.
Hai là do tính chất linh hoạt của thị trường, nên người lao động hiện nay nhảy việc rất nhanh. Nếu hệ thống cơ sở dữ liệu không tốt, không liên thông chặt chẽ thì việc cập nhật thông tin sẽ không theo kịp biến động thực tế, gây khó khăn cho việc kiểm tra chéo.
Thứ 3 về vấn đề khai báo: Người lao động có thể chậm trễ trong việc khai báo tình trạng việc làm mới, hoặc quy trình cập nhật thông tin hiện tại chưa thực sự thuận tiện cho họ, nên dẫn tới họ ‘vô tình” trục lợi chính sách BHTN.
“Hiện nay chúng ta không thiếu dữ liệu, nhưng dữ liệu đang bị phân mảng ở nhiều nơi. Vấn đề cốt lõi là làm sao cập nhật dữ liệu theo thời gian thực và xây dựng được cơ chế đối soát tự động để đưa ra các cảnh báo sớm. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường từ dữ liệu, các cơ quan chức năng có thể đi sâu kiểm tra ngay để ngăn chặn kịp thời”, ông Toàn nói.