Chủ nhật, ngày 10/05/2026 15:35 GMT+7
Thùy Anh Chủ nhật, ngày 10/05/2026 15:35 GMT+7
Thị trường lao động đang chứng kiến xu hướng lao động di cư ngược từ phố về quê và làn sóng lao động bỏ công ty về làm tự do.
Lao động tự do dần lên ngôi
Từng là một kỹ sư xây dựng, được đào tạo bài bản nhưng anh Nguyễn Văn Tùng (30 tuổi) ở Đại Mỗ, Hà Nội đã từ bỏ nghề để về làm lái xe ôm công nghệ.
“Năm 25 tuổi tôi tốt nghiệp ra trường, sau đó đi làm xây dựng nhưng công việc xa nhà, vất vả mà tiền lương lại thấp, tháng chỉ được hơn 7 triệu đồng nên đi làm được 3 năm thì tôi bỏ việc”, anh Tùng kể.
Sau đó anh về nhà đăng ký chạy grab 2 năm và làm công việc tự do. Công việc tuy vất vả phải làm 10 -11 tiếng một ngày nhưng được cái thu nhập cao hơn. Mỗi tháng trừ tiền xăng xe, thu nhập của anh cũng được từ 12-15 triệu đồng, cao hơn hẳn mấy công việc cũ. Quan trọng nhất là anh được làm gần nhà, có thời gian bên vợ con.
Tương tự chị Nguyễn Thị Liên (39 tuổi) cũng từng là quản lý cho công ty cung ứng Vali hạng sang của Đức tại Hà Nội. Lúc còn đi làm, tiền lương của chị Liên vào dạng khá, khoảng 17-20 triệu đồng/tháng chưa kể thưởng và tiền doanh số. Tuy nhiên, công việc lại áp lực nên sau 10 năm gắn bó chị Liên cũng quyết định “về hưu sớm”.
Chia sẻ với PV Báo Dân Việt, chị Liên cho hay: “Lâu nay tôi cũng có nghề tay trái là bán vé máy bay, giờ nghỉ làm về đầu tư cho phòng vé với làm cộng tác viên bán hàng cho shopee. Thu nhập không đều, nhưng cũng cao hơn hoặc bằng tiền lương ở công ty cũ”.

Đặc biệt, nghỉ làm ở công ty, chị được tự do, có thời gian chăm sóc gia đình, chủ động được mọi công việc mà không chịu áp lực như công ty cũ.
Cũng như chị Liên, anh Tùng nhiều lao động đang có xu hướng từ bỏ công việc áp lực ở công ty về nhà tự tạo việc làm. Công nghệ số, trí tuệ AI đang tạo ra những nền tảng vững chắc cho lao động.
Ngoài xu hướng bỏ khu vực tư ra làm riêng, hiện nay thị trường lao động còn ghi nhận xu hướng di cư ngược. Tức là lao động di cư ngược từ thành phố về quê.
Khá nhiều lao động đã từng có công việc ổn định, thu nhập cao làm việc tại các thành phố lớn đã về quê sinh sống và làm việc.
Anh Nguyễn Văn Sơn (45 tuổi) – kỹ sư công nghệ thông tin tốt nghiệp ĐH Bách Khoa từng làm ở Hà Nội 10 năm sau đó cũng dời Hà Nội về Thanh Hóa làm việc. Giờ anh sống ở quê nhưng vẫn làm việc cho một tập đoàn tại Hà Nội.
“Tôi về quê, nhưng lâu lâu vẫn ra Hà Nội họp hành. So với ở phố mức sống ở quê rẻ hơn, cuộc sống cũng bình an hơn, quan trọng là được gần gia đình, vợ con, anh em họ hàng. Đến giờ tôi hài lòng về cuộc sống hiện tại”, anh Sơn nói.
Cũng theo anh Sơn, nhiều bạn của anh có công việc linh hoạt, cũng bỏ phố về làng. Nhiều người làm trong nghề quảng cáo, công nghệ thông tin không bị giới hạn về địa lý còn về quê mở công ty vì chi phí thuê lao động, thuê mặt bằng rẻ (thậm chí không cần thuê, sử dụng chính nhà để làm văn phòng).
Xu hướng chuyển dịch tích cực nhưng cần chú ý tới chính sách bảo vệ lao động
Bà Vũ Thị Minh Thu – Viện Khoa học Tổ chức và Lao động (Bộ Nội vụ) cho rằng, xu hướng chuyển dịch việc làm trong thị trường lao động là không thể ngăn cản. Xu hướng chuyển dịch này cũng tích cực, thể hiện sự linh hoạt, thích ứng của người lao động trong bối cảnh mới.
“Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhà nước cần chú ý thiết kế các chính sách an sinh (bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhà ở…) cho nhóm lao động tự do vừa ra khỏi khu vực phi chính thức. Làm được điều này lao động sẽ yên tâm hơn làm việc, tạo ra được nhiều sản phẩm cho xã hội hơn”, bà Thu nói.
Nhận diện được các thách thức cũng như thuận lợi của lao động trong thị trường lao động, ông Lê Quang Trung – nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm cũng đưa ra dự báo 3 kịch bản vĩ mô cho tương lai thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2026-2030. Dự báo này hoàn toàn khớp với thực tiễn
Đầu tiên là sự lên ngôi của nền kinh tế tạm thời (Gig Economy). Tức là lao động tự do (Freelancer) và lao động trên các nền tảng số sẽ tăng trưởng phi mã. Đây là “van giảm áp” cho thất nghiệp nhưng cũng là thách thức lớn cho hệ thống an sinh xã hội khi lưới bảo hiểm chưa kịp bao phủ nhóm này.
Thứ 2 là làn sóng “di cư ngược”: Thay vì dồn về các đô thị lớn, một bộ phận lao động kỹ năng cao sẽ dịch chuyển về các tỉnh lẻ hoặc vùng ven – nơi có hạ tầng số phát triển và chi phí sinh hoạt thấp hơn. Xu hướng làm việc từ xa (Remote work) vẫn sẽ là một phần tất yếu của thị trường.
Thứ 3 là sự tái cấu trúc giáo dục nghề nghiệp kéo theo đó là hệ thống giáo dục sẽ chuyển từ đào tạo dài hạn sang các khóa đào tạo ngắn hạn và liên tục. Tấm bằng đại học sẽ không còn là “thẻ bài” vĩnh viễn, thay vào đó là yêu cầu “học tập suốt đời”.
Hiện nay, Bộ Nội vụ đã xây dựng hoàn thiện và đưa vào sử dụng sàn giao dịch việc làm quốc gia, qua đó cung cấp các dữ liệu về lao động – tuyển dụng. Tất cả các dữ liệu đều được kết nối liên thông từ Trung ương đến địa phương để xóa bỏ tình trạng thừa – thiếu lao động cục bộ.
Ngoài ra các chính sách cũng đang hướng tới việc thiết kế, xây dựng bảo hiểm thất nghiệp theo hướng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp không nên chỉ là nơi chi trả trợ cấp, mà phải trở thành “Quỹ đào tạo lại”.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia ngoài các giải pháp trên, thời gian tới Việt Nam cần phải xây dựng chiến lược nhân lực chất lượng cao theo hướng tập trung vào các ngành công nghệ lõi. Hiện nay nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang tìm hướng đầu tư vào Việt Nam ở những ngàn công nghệ lõi, do vậy cần thiết phải nâng cao năng lực.
Ông Nguyễn Hải Minh – Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam cho biết, Việt Nam đang tiếp tục khẳng định vị thế là một điểm đến đầu tư rất hấp dẫn trên thế giới, khảo sát của doanh nghiệp cho thấy có hơn 70% doanh nghiệp cho thấy điều này.
Khảo sát các doanh nghiệp nước ngoài cũng cho thấy các doanh nghiệp có những khó khăn trong việc tìm kiếm lao động có kỹ năng phù hợp, đặc biệt trong những lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, kỹ thuật số hay logistic.
“Nhu cầu ở đây không chỉ là số lượng mà còn là người lao động có thể đáp ứng ngay được yêu cầu công việc hay không”, ông Minh chia sẻ.
Liên quan đến tốc độ tiếp cận nguồn nhân lực, ông Minh cho hay, trong trường hợp doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất trong thời gian ngắn thì việc tìm kiếm và tuyển dụng lao động vẫn còn mất nhiều thời gian và chi phí.
Tiếp đó, ông chỉ ra khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế. Người lao động có thể sẵn sàng về số lượng nhưng chưa thực sự sẵn sàng về kỹ năng. Vì vậy, doanh nghiệp phải đầu tư lại và mất rất nhiều thời gian cho việc đào tạo lại này.
Từ bối cảnh trên, theo ông Minh việc triển khai Sàn giao dịch việc làm quốc gia là một bước đi được hiệp hội này đánh giá rất cao. Khi được phát triển đúng hướng, nền tảng này có thể đóng vai trò đột phá như một hạ tầng quan trọng của thị trường lao động.
Ông Minh ghi nhận đây là một thành tựu lớn trong tiến trình số hóa của Chính phủ Việt Nam. Theo ông, hạ tầng này sẽ giúp kết nối cung cầu lao động một cách hiệu quả, giảm thời gian và chi phí tuyển dụng doanh nghiệp. Cùng với đó, sàn sẽ góp phần tăng tính minh bạch của thị trường lao động và giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận người lao động và ngược lại với thông tin kịp thời.
“Chúng tôi cũng hiểu rằng nền tảng này có liên thông với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Như vậy, sự minh bạch còn được đặt lên cao hơn nữa. Quan trọng hơn, nếu được tích hợp và khai thác tốt thì nền tảng này có thể trở thành công cụ dữ liệu và hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc dự báo nhu cầu lao động”, ông Nguyễn Hải Minh nhấn mạnh.