Thứ năm, ngày 07/05/2026 18:38 GMT+7
Gia Khiêm Thứ năm, ngày 07/05/2026 18:38 GMT+7
Chỉ trong vòng 2 ngày liên tiếp, tại TP.HCM và Hà Nội xảy ra vụ việc 2 trẻ nhỏ bị chính mẹ ruột và người tình của mẹ bạo hành trong đó có bé nguy kịch, 1 bé 4 tuổi tử vong khiến dư luận không khỏi xót xa và phẫn nộ. Liên quan đến vấn đề này, PV Dân Việt đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Trần Thành Nam – Phó hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) để đưa ra những giải pháp ngăn chặn tình trạng trên.
“Gia đình không còn là vùng an toàn tuyệt đối”
Thời gian qua, không ít vụ việc trẻ em đang bị xâm hại, bạo hành trong chính gia đình mình. Khi những hành vi đó bị che giấu, trẻ gần như không có cơ hội tự bảo vệ mình nếu không có sự can thiệp kịp thời từ bên ngoài hoặc thiếu cơ chế can thiệp nhanh. Ông đánh giá sao về thực trạng đã và đang tồn tại?
– Ngôi nhà đáng lẽ phải là nơi an toàn nhất của trẻ. Nhưng khi chính người thân trở thành người gây bạo lực, tổn thương ấy thường sâu hơn mọi vết thương thể chất. Đó là điều khiến xã hội đau lòng trong hàng loạt vụ việc trẻ bị mẹ, cha dượng hoặc người tình của mẹ bạo hành thời gian qua tại TP.HCM, Hà Nội và nhiều địa phương khác.

Đây không phải là lần đầu và cũng không còn là những vụ việc cá biệt cá biệt nữa. Nó phản ánh một “khoảng trống bảo vệ” kéo dài nhiều năm trong chính gia đình và cộng đồng mà chúng ta cần thừa nhận sâu sắc để cải thiện.
Điều đáng sợ nhất trong các vụ bạo hành trẻ em gần đây là phần lớn hành vi diễn ra trong không gian khép kín của gia đình, nơi trẻ gần như không có khả năng tự vệ hay tìm kiếm hỗ trợ. Nhiều vụ chỉ được phát hiện khi trẻ đã nguy kịch hoặc tử vong. Điều đó cho thấy cơ chế phát hiện và can thiệp sớm vẫn còn nhiều lỗ hổng.
Vậy theo ông, nguyên nhân từ đâu tình trạng trẻ bị bạo hành trong ngay chính gia đình mình vẫn tồn tại, năm nào cũng có nhiều trường hợp đau lòng xảy ra?
– Theo tôi, có ba nguyên nhân lớn khiến tình trạng này kéo dài. Thứ nhất là tâm lý xem bạo lực gia đình là “chuyện riêng”. Nhiều người xung quanh nghe tiếng trẻ khóc, chứng kiến dấu hiệu bất thường nhưng ngại can thiệp vì sợ phiền phức, tốn thời gian hoặc “mất lòng”. Chính sự im lặng đó vô tình tạo ra vùng tối để bạo hành tiếp diễn.

Thứ hai là thiếu kỹ năng nhận diện và quy trình xử lý rõ ràng. Không ít giáo viên, cán bộ cơ sở, nhân viên y tế thấy trẻ có dấu hiệu bất thường nhưng không nhạy cảm để nghi ngờ, nếu nghi ngờ cũng không biết phải báo cho ai, xử lý thế nào, trong bao lâu.
Thứ ba là sự nhầm lẫn giữa “giữ gìn gia đình” với “bảo vệ trẻ”. Nhiều trường hợp sau khi bị phát hiện, trẻ vẫn bị đưa trở lại môi trường nguy hiểm vì người lớn cho rằng “trẻ vẫn cần mẹ”, trong khi người gây bạo lực chưa thay đổi thái độ, hành vi, không được cách ly hoặc kiểm soát. Chúng ta có luật, có chính sách, nhưng từ phát hiện đến can thiệp và theo dõi dài hạn vẫn đang bị nghẽn ở cấp cơ sở.
Thưa ông, làm thế nào để nhận diện được trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục?
– Trẻ bị bạo lực hoặc xâm hại thường phát ra “tín hiệu cầu cứu” qua cơ thể, hành vi và cảm xúc, chỉ là người lớn có đủ nhạy cảm để nhận ra hay không. Về thể chất, cần chú ý các dấu hiệu như vết bầm ở vùng mềm, dấu roi vọt, bỏng bất thường, trẻ thường mặc áo dài tay để che cơ thể dù thời tiết nóng.
Một số trẻ có biểu hiện đau vùng kín, khó đi lại, sụt cân hoặc chậm phát triển. Về hành vi, trẻ có thể trở nên sợ hãi quá mức, giật mình khi người lớn quát mắng, né tránh một người cụ thể trong gia đình hoặc có biểu hiện tự làm đau bản thân. Một số trẻ ngược lại trở nên hung hăng, bạo lực với bạn bè hoặc động vật như một cách phản ứng với tổn thương mình phải chịu.
Ở khía cạnh cảm xúc, nhiều trẻ dần thu mình, ít nói, mất hứng thú học tập, ngủ không yên, hay gặp ác mộng, không còn tin tưởng người lớn. Và người phát hiện đầu tiên không phải lúc nào cũng là công an hay bệnh viện. Thông thường là giáo viên chủ nhiệm, hàng xóm, chủ nhà trọ hay thậm chí là người bán hàng quen gần nhà.
Muốn bảo vệ trẻ, phải hành động nhanh hơn bạo lực
Theo ông, cần làm gì để tạo “lá chắn” bảo vệ trẻ bị bạo hành?
– Tôi cho rằng, “lá chắn” bảo vệ trẻ em chỉ thực sự hiệu quả khi xã hội chuyển từ phản ứng sau bi kịch sang phát hiện sớm và can thiệp sớm.
Chúng ta cần xây dựng quy trình can thiệp thống nhất ở địa phương theo chuỗi: tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ, khám sức khỏe, bảo vệ khẩn cấp, xử lý pháp lý, phục hồi tâm lý và theo dõi dài hạn. Đặc biệt, trẻ phải được cách ly ngay khỏi môi trường nguy hiểm khi có nguy cơ cao, thay vì chờ hoàn tất thủ tục hành chính hay điều tra kéo dài.

Luật Trẻ em 2016 đã cho phép áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp, nhưng việc triển khai thực tế ở cơ sở còn rất hạn chế. Một vấn đề khác thường bị bỏ quên là phục hồi tâm lý. Nhiều trẻ bị bạo hành mang “vết thương vô hình” kéo dài suốt nhiều năm như rối loạn lo âu, trầm cảm, khó hình thành niềm tin hay các mối quan hệ an toàn.
Vì vậy, hỗ trợ tâm lý nên trở thành một phần bắt buộc trong quy trình bảo vệ trẻ. Bên cạnh đó, cần dạy kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ ngay từ nhỏ, giúp trẻ hiểu về vùng riêng tư cơ thể, biết nói “không”, biết tìm kiếm người lớn an toàn để chia sẻ. Những kỹ năng này thường đã được tích hợp trong chương trình giáo dục nhà trường
Hiện nay mô hình phối hợp liên ngành giữa bệnh viện – công an – luật sư – hội phụ nữ – báo chí… đang được nhân rộng để ngăn chặn, tạo lá chắn bảo vệ trẻ, ông nghĩ sao về mô hình này?
– Nhiều mô hình phối hợp liên ngành giữa bệnh viện, công an, luật sư, hội phụ nữ, báo chí và nhà trường đang được triển khai ở nhiều nơi, rất đáng học tập. Ví dụ mô hình phối hợp tại Bệnh viện Nhi đồng 2 TP.HCM đã giúp rút ngắn thời gian từ phát hiện đến can thiệp, đồng thời bảo vệ trẻ ngay trong môi trường bệnh viện với hỗ trợ pháp lý và tâm lý kịp thời. Tuy nhiên, những mô hình này cần được mở rộng và chuẩn hóa hơn nữa sau kiểm chứng từ các nghiên cứu khoa học.
Trong hệ thống này, nhà trường phải trở thành mắt xích chính thức trong hệ thống bảo vệ trẻ em, không chỉ dừng ở việc dạy học. Giáo viên cần được tập huấn về nhận diện sang chấn, quy trình báo cáo và hỗ trợ tâm lý học đường. Sẽ cần phải xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa y tế, giáo dục, công an và bảo trợ xã hội để theo dõi từng trường hợp trẻ có nguy cơ cao.
Ngoài ra, cần bổ sung các giải pháp mới, khả thi hơn ở cấp cộng đồng như: Xây dựng “quy trình 3 bước” cho xã/phường, trường học, trạm y tế gồm: nhận diện, báo cáo ngay và bảo vệ trẻ tại chỗ.

Đưa chuyên gia tâm lý vào mạng lưới bảo vệ trẻ em cấp xã thông qua hợp tác với trường đại học, bệnh viện hoặc trung tâm tư vấn.
Đánh giá nguy cơ đối với các gia đình có yếu tố rủi ro như nghiện chất, tiền sử bạo lực, rối loạn tâm thần hoặc thất nghiệp kéo dài.
Xây dựng “quy trình phòng chống bạo lực học đường, xây dựng trường học hạnh phúc” quy tắc ứng xử, trong đó ghi rõ quyền của trẻ, số điện thoại hỗ trợ và người phụ trách bảo vệ trẻ.
Tuyên truyền rõ trách nhiệm pháp lý đối với hành vi che giấu thông tin bạo hành trẻ em. Trách nhiệm tố cáo bắt buộc.
Thành lập quỹ hỗ trợ phục hồi dài hạn cho trẻ bị bạo hành để chi trả trị liệu phục hồi tâm lý, học tập và chăm sóc thay thế. Công tác bảo vệ trẻ em không thể chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình hay một cơ quan nào đó. Mỗi đứa trẻ bị bạo hành là một tuổi thơ bị đánh cắp niềm tin. Xã hội văn minh không được phép để trẻ em lớn lên trong sợ hãi ngay trong chính ngôi nhà của mình.
Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ rất thẳng thắn của ông!
Mới đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Thanh Trúc (33 tuổi) và Danh Chơn (30 tuổi, cùng trú xã Hòa Hiệp) để điều tra về hành vi “cố ý gây thương tích”. Trúc và Chơn được xác định là hai người bạo hành nghiêm trọng cháu N.G.K. (sinh năm 2024, con ruột của Trúc) phải vào viện cấp cứu.
Theo điều tra, chiều 2/5, Công an xã Hòa Hiệp (TP.HCM) tiếp nhận tin báo của người dân về việc một phụ nữ có hành vi đánh đập con nhỏ tại nhà thuê ở ấp Phú Lâm, xã Hòa Hiệp. Khi lực lượng chức năng có mặt, cháu K. được phát hiện trong tình trạng nguy kịch, toàn thân có nhiều vết bầm tím, trầy xước, vùng đầu bị rách, lơ mơ, phản ứng chậm.
Nạn nhân lập tức được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện địa phương, sau đó chuyển lên Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM) tiếp tục điều trị. Ngay khi tiếp nhận thông tin, Ban giám đốc Công an TP.HCM đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự phối hợp Công an xã Hòa Hiệp xác minh, làm rõ vụ việc.
Bước đầu cơ quan công an xác định Trúc và Chơn chung sống như vợ chồng, đã nhiều lần dùng cây tre đánh bé trai. Riêng chỉ trong ngày 2/5, cháu K. đã bị đánh nhiều lần vào chân, lưng và đầu. Dù phát hiện bé trai chảy máu, hai người vẫn không đưa K. đi cấp cứu kịp thời.
Kết quả chẩn đoán ban đầu cho thấy cháu K. bị đa chấn thương nặng, có dấu hiệu tổn thương thận cấp, gãy xương cánh tay và nhiều tổn thương khác trên cơ thể.
Chưa dừng lại ở đó, ngày 7/5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh Hiệp (22 tuổi, trú tại xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình) và Bàn Thị Tâm (20 tuổi, quê xã Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang) về tội giết người.
Theo điều tra, Hiệp và Tâm sinh sống với nhau như vợ chồng và thuê trọ tại ngõ 31 Nguyễn Khả Trạc, phường Phú Diễn, Hà Nội từ tháng 3/2026 đến nay. Ở cùng có cháu B.T.H (4 tuổi, là con riêng của Tâm) và anh trai của Hiệp cùng người yêu.
Chiều ngày 3/5, Hiệp và Tâm đi chơi về thì thấy cháu H. chuẩn bị lấy bánh, kẹo ra ăn. Cho rằng cháu ăn vụng nên Tâm đã lấy dép đánh liên tiếp nhiều lần vào vùng đầu và mặt cháu. Đánh xong Tâm bắt cháu H. đứng góc nhà thì thấy cháu đi vệ sinh nên Tâm dùng tay đánh vào mặt rồi bảo cháu vào tắm.
Khi thấy cháu H. đang nghịch trong nhà vệ sinh, Hiệp chửi rồi dùng chân kẹp chặt ở má cháu, lấy vòi hoa sen xịt liên tục vào khu vực miệng và mũi của cháu. Thấy Hiệp xịt nhưng Tâm không nói gì và đi ra ngoài. Một lúc sau thấy cháu không gào khóc giãy giụa nữa thì Hiệp đi ra ngoài. Sau đó cháu H. được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện E và tử vong.
Ngay sau khi nhận được thông tin, Giám đốc CATP đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình phối hợp các đơn vị chức năng khẩn trương điều tra, làm rõ hành vi của các đối tượng. Quá trình đấu tranh Hiệp và Tâm còn khai nhận thường xuyên bạo hành, đánh đập cháu H, thậm chí bỏ đói nhiều ngày.