Thứ sáu, ngày 30/01/2026 14:47 GMT+7
Luật sư Hoàng Hà Thứ sáu, ngày 30/01/2026 14:47 GMT+7
Chiều 28/1, hàng nghìn phụ huynh ở TP.HCM được nhà trường thông báo tạm ngưng bữa ăn bán trú từ ngày 29/1 với lý do thịt hết hạn được phát hiện tại kho của một công ty cung cấp suất ăn. Hơn 6.100 học sinh bị ảnh hưởng, hàng chục trường đồng loạt dừng hoặc chuyển đổi nhà cung cấp gấp.
Đây cũng chính là kết quả ban đầu từ loạt bài điều tra độc quyền “Sự thật phía sau những suất ăn học đường ở TP.HCM” do nhóm PV Báo Dân Việt thực hiện. Và điều đáng lo ngại, đây không phải trường hợp cá biệt.
Theo báo cáo của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), trong 11 tháng đầu năm 2024, Việt Nam ghi nhận 131 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 4.796 người mắc và 21 người tử vong. So với cùng kỳ năm 2023, số vụ ngộ độc tăng 7 vụ, số người mắc tăng 2.677 người. Trong đó có không ít vụ việc nghiêm trọng liên quan đến thực phẩm tại trường học.
Không rõ ai chịu trách nhiệm cuối cùng
Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam có Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Nghị định 178/2013/NĐ-CP, Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hàng chục Thông tư, chỉ thị hướng dẫn. Chỉ một ngày trước khi Dân Việt hé lộ đường dây thực phẩm bẩn tại TP.HCM Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2026/NĐ-CP (ngày 26/1/2026) quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010.
Văn bản dày đặc đến mức có thể phủ kín sân trường. Nhưng khi sự cố xảy ra, không ai biết ai phải chịu trách nhiệm cuối cùng.
Theo quy định hiện hành, chuỗi quản lý an toàn thực phẩm học đường được phân tán qua nhiều đầu mối. Bộ GD&ĐT quản lý chung về giáo dục. Bộ Y tế và các Sở An toàn thực phẩm quản lý an toàn thực phẩm. UBND phường, xã giám sát địa bàn. Còn hiệu trưởng là người quyết định chọn nhà cung cấp và chịu trách nhiệm cao nhất về suất ăn tại trường.
Trong vụ việc phanh phui thực phẩm bẩn vào trường học tại TP.HCM, Sở GD&ĐT nhấn mạnh hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý bữa ăn học đường, chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra vi phạm. Trên thực tế, nhà trường ký hợp đồng với đơn vị cung cấp suất ăn dựa trên hồ sơ pháp lý và các chứng nhận do doanh nghiệp xuất trình, trong khi hiệu trưởng không có chức năng chuyên môn để kiểm định an toàn thực phẩm.
Theo thông tin từ chính quyền địa phương, UBND cấp xã đã phối hợp kiểm tra cơ sở cung cấp nhiều lần trong năm 2024 và tại các thời điểm kiểm tra chưa phát hiện vi phạm. Vấn đề đặt ra không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà là cơ chế phân công thẩm quyền và giám sát an toàn thực phẩm học đường đã đủ chặt chẽ hay chưa.
Khi quá nhiều đầu mối, trách nhiệm bị pha loãng. Không có cơ chế phối hợp chặt chẽ, kết quả là mỗi bên làm việc độc lập, kẽ hở nằm ở giữa. Hiệu trưởng không được đào tạo về kiểm định thực phẩm. Sở An toàn thực phẩm không có đủ nhân lực để giám sát thường xuyên tất cả các công ty. UBND phường, xã chỉ kiểm tra theo kế hoạch, ít đột xuất. Trong khi đó vi phạm thường diễn ra khi không có người giám sát.
Một số nước phát triển có quy định pháp lý rõ ràng và nhân sự chuyên môn trong lập thực đơn và giám sát bữa ăn học đường. Tại Hàn Quốc, chương trình ăn trưa học đường và tiêu chuẩn dinh dưỡng được quy định bởi Bộ Giáo dục theo Luật về bữa ăn học đường. Các trường được yêu cầu bố trí chuyên gia dinh dưỡng để lập thực đơn và giám sát an toàn thực phẩm. Trong khi việc mua, chọn và vận hành suất ăn tuân thủ các tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục ban hành.
Ở Nhật Bản, thực phẩm học đường là một phần của chương trình giáo dục dinh dưỡng theo quy định của Nhà nước với các chuyên gia dinh dưỡng tham gia lập thực đơn và giám sát bữa ăn. Trách nhiệm tổ chức chương trình ăn trưa thường do ban giám hiệu và cơ quan giáo dục địa phương phối hợp thực hiện theo luật thay vì chỉ giao cho Hội đồng Giáo dục hoặc tách biệt hoàn toàn khỏi vai trò của hiệu trưởng.
Điểm chung của hai mô hình này là có đầu mối quản lý duy nhất và rõ ràng, ngân sách nhà nước cao và ổn định, có chuyên gia dinh dưỡng chuyên trách không phải do giáo viên kiêm nhiệm. Ngoài ra họ áp dụng HACCP (một hệ thống quản lý an toàn thực phẩm dựa trên phòng ngừa, được nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thừa nhận và áp dụng) hoặc tiêu chuẩn an toàn bắt buộc và ưu tiên trường tự vận hành thay vì thuê ngoài.
Bài học cho Việt Nam là không thể cứ phân tán trách nhiệm mãi, cần có ngân sách lớn hơn, cần đào tạo đội ngũ chuyên gia dinh dưỡng học đường và cần cơ chế giám sát chặt chẽ hơn.
Những kẽ hở trong thực thi
Vấn đề của nước ta không phải thiếu chế tài pháp lý mà nằm ở những kẽ hở trong thực thi. Đầu tiên là không có “danh sách đen”. Một công ty vi phạm ở trường này vẫn có thể ký hợp đồng với trường khác vì không có cơ sở dữ liệu chung về các đơn vị vi phạm. Thứ hai là không có truy xuất nguồn gốc bắt buộc. QR code, tem truy xuất chỉ là khuyến khích, không bắt buộc, nên trường không biết thịt từ đâu, ai cung cấp. Thứ ba là thanh tra lỏng lẻo.
Công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm hiện nay vẫn chủ yếu được triển khai theo kế hoạch định kỳ. Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng việc giám sát chưa thường xuyên khiến các hành vi vi phạm có xu hướng phát sinh ngoài thời điểm kiểm tra.
Theo quy định pháp luật hiện nay, bên gây ngộ độc thực phẩm phải bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự, chịu xử phạt hành chính theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP. Và trong trường hợp hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 317 Bộ luật Hình sự. Thực tiễn cho thấy phần lớn vi phạm an toàn thực phẩm được xử phạt hành chính, còn các vụ được truy cứu hình sự là tương đối ít. Như vậy chế tài không đủ răn đe.
Quy định hiện nay giao nhà trường là đơn vị tổ chức lựa chọn và ký hợp đồng với đơn vị cung cấp suất ăn, trên cơ sở hồ sơ pháp lý và năng lực do doanh nghiệp xuất trình, theo các quy định về an toàn thực phẩm và quản lý bán trú. Thực tế cho thấy, việc thẩm định chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy tờ có thể không phản ánh đầy đủ điều kiện thực tế của quá trình sản xuất, chế biến và cung ứng thực phẩm.
Hiệu trưởng không có chức năng và chuyên môn để kiểm tra điều kiện kho bãi, nguồn cung hay chất lượng nguyên liệu của doanh nghiệp cung cấp suất ăn. Việc này thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành. Để thắng thầu, nhiều công ty chạy đua giảm giá. Một suất ăn chỉ khoảng 20.000-25.000 đồng. Để có lãi với giá rẻ, công ty cung cấp suất ăn phải cắt giảm chi phí, dẫn đến việc dùng nguyên liệu kém chất lượng hoặc hết hạn.

Trong khi Hàn Quốc và Nhật Bản đã có hệ thống hoàn chỉnh sau hàng chục năm xây dựng, Việt Nam đang ở đâu? Câu trả lời nằm ở một lộ trình cải cách bài bản, bắt đầu từ những việc cấp bách nhất.
Đầu tiên cần thiết lập “danh sách trắng” ngay lập tức. Sở Y tế, Sở ATTP lập danh sách các công ty đủ điều kiện cung cấp suất ăn học đường. Trường chỉ được chọn trong danh sách này. Công ty vi phạm sẽ bị gạch tên khỏi danh sách, cấm tham gia thầu từ 3-5 năm. Cần bắt buộc truy xuất nguồn gốc, mỗi suất ăn phải có mã QR để quét là biết thịt từ đâu, ai cung cấp, ngày nhập kho. Công nghệ đã có, chỉ cần quyết tâm áp dụng. Cần tăng thanh tra đột xuất, không chỉ thanh tra theo kế hoạch. Đặc biệt là trao quyền kiểm tra đột xuất bếp ăn học đường cho phụ huynh như một số nước đang làm.
Trong trung hạn 3-5 năm, cần ban hành “Quy chuẩn quốc gia về nhà cung cấp suất ăn học đường” với quy định cụ thể về diện tích nhà xưởng, quy trình bảo quản, tiêu chuẩn nhân viên và bắt buộc áp dụng HACCP. Cần đào tạo chuyên gia dinh dưỡng học đường bằng cách mở ngành đào tạo chuyên sâu và bắt buộc mỗi trường hoặc cụm ba đến năm trường có một chuyên gia dinh dưỡng. Người này chịu trách nhiệm thiết kế thực đơn, giám sát chất lượng và giáo dục học sinh.
Trong dài hạn 5-10 năm, cần khuyến khích trường tự vận hành bếp ăn theo mô hình như Hàn Quốc đã làm bằng cách nhà nước hỗ trợ xây dựng bếp và mua thiết bị để giảm phụ thuộc vào công ty ngoài. Cần xây dựng hệ thống “Trung tâm Thực phẩm Học đường” toàn quốc với mỗi tỉnh, thành có một trung tâm quản lý tất cả từ hợp đồng với nông dân đến kiểm định và vận chuyển.
Quan trọng nhất là tăng ngân sách nhà nước vì hiện tại ngân sách cho an toàn thực phẩm học đường quá thấp. Cần coi đây là đầu tư cho tương lai, không phải chi phí như các dạng đầu tư khác.
An toàn thực phẩm không thể chỉ chạy theo xử lý hậu quả sau khi sự cố đã xảy ra mà phải được phòng ngừa ngay từ đầu. Bài học từ vụ thịt hết hạn TP.HCM không phải là cần thêm luật mà là cần sự rõ ràng trong trách nhiệm. Không phải cần thêm cơ quan kiểm tra mà là cần một đầu mối duy nhất để hỏi trách nhiệm.
Có một nguyên lý trong xây dựng hệ thống mà các nhà quản trị thế giới đều biết: Hệ thống tốt không phải là hệ thống nhiều lớp kiểm soát mà là hệ thống ai cũng biết mình phải làm gì và chịu trách nhiệm như thế nào. Vì trong quản trị như trong cuộc sống, điều quan trọng không phải có bao nhiêu người cùng làm mà là có ai đó phải chịu trách nhiệm khi việc không được làm đã xảy ra.