HIỆN THÂN CỦA TRƯỜNG PHÁI THƠ LOẠN TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI – HÀN MẶC TỬ: CUỘC ĐỜI NHƯ SAO BĂNG NGANG TRỜI, TÀI NĂNG NHƯ TRĂNG SOI VẠN DẶM 

Những ai đã học SGK Ngữ văn 8 giai đoạn 1990-2002 sẽ biết tới bài thơ “Mùa xuân chín”:

“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:

-Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?…”

Và phần lớn, thế hệ gen Y, gen Z đều được học tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” trong SGK Ngữ văn 11 xuất bản 2003:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

(…)

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?”

Một tác gia mà mọi thế hệ đều phải học, một cái tên không thể thiếu khi nói về thi đàn Việt Nam thời kì đổi mới nhất, thời kì xuất hiện nhiều cây bút với sức sáng tạo vượt bậc- thời kì Thơ Mới… Vậy Hàn Mặc Tử là ai ?

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, anh sinh ra ở đất Quảng Bình và lớn lên ở Quy Nhơn. Hàn Mặc Tử là một nhà thơ 28 năm tuổi đời, 12 năm tuổi nghề nhưng lại là nguồn cảm hứng bất tận với hậu thế, có thể kể đến những tác phẩm âm nhạc lấy cảm hứng từ nhà thơ này như “Trường ca Hàn Mặc Tử” của cố nhạc sĩ vĩ đại Phạm Duy, bản bolero “Hàn Mặc Tử”, vọng cổ “Hàn Mặc Tử” hay gần đây là một tác phẩm rất đáng nghe của Phan Mạnh Quỳnh “Huyền thoại”. Tại sao Hàn lại có thể trở thành một nguồn cảm hứng lớn như thế ? Bởi vì người ta thường lấy cảm hứng từ những gì “vượt trên mức bình thường” mà cuộc đời Hàn lại chẳng có gì bình thường cả. Hay nói cách khác thì cuộc đời Hàn có vô vàn thứ để nói. Những nàng thơ, cuộc tình, thăng hoa trong thi ca đến mức ghi danh vào lịch sử văn học và ngược lại bi kịch đến với đời anh là những giày vò về thể xác lẫn tinh thần đến mức có thể đẩy con người ta vào hố đen sâu nhất.

Nói về bi kịch thì người ta vẫn luôn nói về những căn bệnh của anh: bệnh phong, bệnh kiết lỵ… Người thì nói do một lần đi chơi với nàng thơ nổi tiếng của mình- Mộng Cầm, Hàn cùng người yêu vô tình trú mưa gần một ngôi mộ hoang và mắc phải bệnh phong, sau bởi không điều trị đúng cách mà tổn hại đến lục phủ ngũ tạng rồi ra đi bởi căn bệnh kiết lỵ. Nhưng theo lời kể của em trai anh tức ông Nguyễn Bá Tín thì có lẽ bi kịch cuộc đời Hàn Mặc Tử đã được định sẵn. Anh sinh ra vốn là cậu bé hiếu động, nghịch ngợm nhưng sau một lần suýt chết đuối thì thay đổi hẳn thành một người trầm tính, rụt rè và mắc chứng sợ nước và việc sợ tiếp xúc với nước của Hàn có thể là nguyên nhân cho bệnh phong sau này. Và cứ thế người đời đã nói quá nhiều về bi kịch của Hàn Mặc Tử, cũng không ít chi tiết được thêm thắt hay huyền ảo hoá nhưng chung quy người ta đều mang cảm giác tiếc nuối cho một tài năng bị bệnh tật tước mất một tương lai sáng ngời.

“Mai sau những cái tầm thường, mực thước kia sẽ tan đi, và còn lại của cái thời kì này một chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”- Chế Lan Viên

Ánh sáng chói lọi trong cuộc đời Hàn Mặc Tử có lẽ là của một đời thơ huy hoàng. Phong trào Thơ Mới kéo dài từ năm 1930- 1932 đến 1943-1945, và sau đó với đòi hỏi của lịch sử, tình hình chung xã hội, văn học cách mạng/ trữ tình cách mạng lên ngôi. Bối cảnh đó đã khiến phần lớn các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới thay đổi quan điểm sáng tác hoặc chuyển sang hoạt động báo chí, phê bình. Những tác phẩm có nội dung về tình cảm cá nhân, khai thác cảm xúc hoặc cái tôi cá nhân, có khuynh hướng lãng mạn hoặc tượng trưng siêu thực có thể nhận rất nhiều ý kiến trái chiều từ giới phê bình và công chúng. Với tình hình đó, những tác phẩm theo khuynh hướng trữ tình lãng mạn, hoặc chung hơn là văn học vị nghệ thuật phải nép mình sang một bên. Và thơ Hàn Mặc Tử lại càng nhận những ánh nhìn khắc khe hơn thế bởi lẽ ngay khi còn ở trong giai đoạn phong trào Thơ Mới, thơ Hàn cũng như những tác phẩm thuộc trường phái thơ loạn hoặc thơ tượng trưng siêu thực đã vấp phải những chỉ trích do “thơ không ai hiểu”, do “quá điên”, thậm chí có nhà phê bình đã từng nói sở dĩ thơ Hàn khó hiểu bởi nhà thơ không đủ năng lực viết cho người khác hiểu. Thì đến thời đại của văn học Cách mạng, thơ Hàn càng bị chỉ trích do nhuốm màu bi kịch không phù hợp với tinh thần chiến đấu và công cuộc Cách mạng thời bấy giờ. Nhưng nghệ thuật chân chính không bao giờ chết! Mãi hơn 50 năm sau thơ Hàn Mặc Tử mới cơ hồ được đứng ở vị trí xứng đáng: tác phẩm được đưa vào SGK và được xuất bản rộng rãi, các nhà phê bình và công chúng bắt đầu thưởng thức nghệ thuật theo cách riêng của họ thay vì chỉ trích, đến nay đã có 11 con đường mang tên thi sĩ này trên khắp Việt Nam.

Vậy đời thơ và hồn thơ của Hàn thi sĩ đặc biệt như thế nào?

I. TIẾNG THƠ BAUDELAIRE VANG VỌNG KHẮP TRỜI PARIS, TIẾNG THƠ HÀN MẶC TỬ DU DƯƠNG THẤM VÀO ĐẤT MIỀN TRUNG

(Khái niệm về thơ tượng trưng, thơ siêu thực và tượng trưng siêu thực được nói cụ thể hơn trong phần chú thích của hình 2)

Trước nhất nói về quan điểm sáng tác,

Như rất nhiều các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới, Hàn Mặc Tử tiếp thu rất nhiều từ thơ tượng trưng Pháp mà đặc biệt là thi sĩ Pháp Charles Baudelaire- một trong những nhà thơ vĩ đại nhất thế kỉ 19, người đặt nền móng cho thi pháp thơ tượng trưng và mở đường cho thơ hiện đại. Quan điểm sáng tác của Hàn Mặc Tử được anh thể hiện nhiều qua những tác phẩm văn xuôi như “Chơi với trăng”, “Quan niệm thơ” hay lời tựa của tập thơ “Đau thương”. Quan điểm ấy có phần tương đồng với Baudelaire cũng như cơ số nhà thơ tượng trưng khác. Anh cũng đặt nhà thơ ở một vị trí trung tâm, tách biệt với tất cả: “Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo”, anh cũng coi việc làm thơ là phải trút hết sinh lực “phát tiết hết tinh lực của hồn, của máu, bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc”, anh coi thơ là “tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao lại trời” và cũng tạo ra cho mình một cõi riêng, cõi thuần khiết và trong trắng “nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt”. Nhưng Hàn Mặc Tử cũng từng tự nhận mình có điểm trái quan điểm với Baudelaire ở chỗ Hàn phân biệt rạch ròi cảm hứng và dục tình chứ không đánh đồng cả hai và cũng không tách biệt thơ văn với thực tế, khoa học, luân lý như đại thi hào Pháp.

Quan điểm ấy là tiền đề tạo ra trường phái thơ loạn trong phong trào Thơ Mới,

Trường phái tượng trưng siêu thực đã đến với thi đàn Việt Nam rầm rộ nhất vào thời kì Thơ Mới. Bên cạnh Xuân Diệu với trường phái lãng mạn đậm chất Tây phương, Huy Cận cùng trường phái hoài cổ với những nỗi buồn không dứt, Nguyễn Bính luôn mang theo hương đồng nội cỏ của làng quê Việt thì có một trường phái thơ khiến trăm kẻ yêu lẫn trăm kẻ ghét đó là trường phái thơ loạn. Hàn Mặc Tử là người khởi xướng ra trường phái thơ ấy, anh chính là hiện thân của một thời thơ loạn ở Việt Nam. Và thơ loạn về cơ bản không phải thơ tượng trưng siêu thực đúng nghĩa như thơ châu Âu mà là một tổ hợp: “thơ trữ tình lãng mạn, tượng trưng có yếu tố siêu thực”. Những nghệ sĩ của trường phái thơ loạn đã mang đến những âm điệu độc đáo khác lạ nhất cho thi đàn Việt Nam, họ như những kẻ lữ hành luôn đi tìm sự lạ, kiếm cái tột cùng của xúc cảm: “Một tiếng gọi ở chốn xa xăm, thiêng liêng và huyền bí làm rung động cõi lòng ta…. Bồn chồn, ta quyết đi tìm sự lạ”.

II. GIẤU TINH TUÝ VÀO TẬP THƠ KHÔNG BAO GIỜ XUẤT BẢN

Về riêng Hàn Mặc Tử, anh gây tiếng vang với tập thơ đầu tiên và duy nhất được chính anh xuất bản “Gái quê” (các tập thơ sau phần lớn là các nhà nghiên cứu và bạn bè sưu tầm). Ở tập thơ này người ta lờ mờ nhận ra cái “điên”, cái “lạ” của anh nhưng mọi xúc cảm chưa hề bùng nổ mà vẫn còn những nét bình dị, vẫn còn ẩn chứa vẻ đẹp gợi tình, rực rỡ trong từng tiếng thơ:

“Trăng nằm sõng soài bên cành liễu,

Đợi gió đông về để lả lơi….

Hoa lá ngây tình không muốn động,

Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi…” (trích “Bẽn lẽn”)

“Trước sân anh thơ thẩn,

Đăm đăm trông nhạn về.

Mây chiều còn phiêu bạt,

Lang thang trên đồi quê…” (trích “Tình quê”)

Nhưng đỉnh cao nghệ thuật trong thơ ông là tập thơ “Đau thương” (tên khác là “Thơ điên”), tập thơ được tập hợp vào thời điểm ba năm trước khi nhà thơ qua đời. Thoả mãn, choáng ngợp, ớn lạnh, day dứt và sững sờ trước những ý niệm không thể giải thích là tất cả những gì đọng lại sau khi đọc trọn vẹn “Đau thương”. Thế giới trong “Đau thương”- một đỉnh cao khác lạ của thơ ca vị nghệ thuật Việt Nam- là của riêng Hàn Mặc Tử. Không ai có thể hiểu hết và cũng chẳng ai muốn trở thành kẻ có thể đồng cảm tuyệt đối với những niềm đau, lời thơ như rỉ máu ấy. Và Hàn Mặc Tử cũng biết trước điều đó, anh biết được mình sẽ trở thành kẻ cô độc vĩnh viễn trong thế giới của “Đau thương”nên có lẽ vì thế Hàn đã thề với Chúa rằng sẽ không bao giờ xuất bản tập thơ này, thậm chí là đưa ra lời cảnh tỉnh về tập thơ ngay từ lời tựa: “vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh….”

Thi phẩm “Đau thương” có ba tập thơ nhỏ, tập đầu tiên là “Hương thơm”, tập thứ hai là “Mật đắng” và tập cuối là “Máu cuồng và hồn điên”, từng cái tên cũng tương đồng với âm điệu thơ của từng tập. Vườn thơ trong “Đau thương” được xây dựng đúng với lời tựa vì đọc từ tập 1 đến tập 3 tức “càng đi xa” thì sự “ớn lạnh” lại càng bao trùm tâm trí người đọc. Hoài Thanh bình rằng tập “Hương thơm” thì “tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào”:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu.”

(trích “Đà Lạt trăng mờ”)

“Ánh trăng mỏng quá không che nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét buồn buồn tơ liễu rủ,

Những lời năn nỉ của hư vô.”

(trích “Huyền ảo”)

Tập “Mật đắng” thì buồn “thấm thía” nhưng vẫn “dịu dịu” và “lời thơ như dính máu”:

“Người đi: một nửa hồn tôi mất,

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

(trích “Những giọt lệ”)

“Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay tới Quảng Hàn

Mà ai gánh máu đi trên tuyết

Mảnh áo da cừu ngắm nở nang”

(trích “Cuối thu”)

“Anh điên anh nói như người dại

Van lạy không gian xoá những ngày…

(…)

Anh đứng cách xa hàng thế giới

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

Em cười anh cũng cười theo nữa,

Để nhắn hồn em đã tới nơi” (trích “Lưu luyến”)

Còn tập “Máu cuồng và hồn điên” thì “đã hoàn toàn xa rời thế giới thực và cả thế giới mộng của ta”:

“Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng,

Trôi thây về xa tận cõi vô biên.

Trong thuyền mơ bỗng nghe ai đằng hắng,

Thôi phải rồi, đích thị tiếng ma điên”

(trích “Vớt hồn”)

“Say! Say lảo đảo cả trời thơ,

Gió rít tầng cao trăng ngả ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô.

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.”

(trích “Say trăng”)

“Cả miệng ta trăng là trăng

Cả lòng ta vô số gái hồng nhan,

Ta nhả ra đây một nàng

Cho mây lặng lờ, cho nước ngất ngây,

Cho vì sao rụng xuống mái rừng say”

(trích “Một miệng trăng”)

III. BỎ LẠI “ĐAU THƯƠNG” ĐỂ XÂY NÊN “CÕI TRỜI TÁCH BIỆT”

Từng có một thời gian, Chế Lan Viên phê bình thơ Hàn theo hướng khơi gợi sự lạc quan từ những niềm đau và lại có ý kiến cho rằng Chế phê bình như vậy để thơ của người bạn của mình giảm bớt bi thương, được đón nhận rộng rãi hơn. Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử hoàn toàn không phải chỉ có bi ai, khổ ải. Thơ Hàn Mặc Tử đầy ắp niềm đau, nỗi tuyệt vọng nhưng chưa bao giờ hết mong muốn thoát khỏi nỗi đau và cũng chưa từng ngừng yêu. Nỗi đau Hàn Mặc Tử đưa vào thơ phần nhiều là nỗi đau tinh thần, nỗi đau của kẻ đa tình chịu kiếp cô độc. Nhưng anh không bị niềm đau ấy giam hãm mà lại tự tay xây cõi giới riêng của mình ở trong thơ. Thế giới ấy được thể hiện rõ qua tập thơ “Thượng thanh khí” và nó cũng cho thấy Hàn Mặc Tử tôn thờ những gì thanh thuần, thuần khiết, trinh nguyên và trong trắng. Bằng chứng là cõi giới của riêng anh phải “thượng” và “thanh”. “Thượng thanh khí” ẩn chứa một một thế giới như cõi tiên, nơi “tôi” có thể hoá thành Tô Đông Pha, gặp nàng Tây Thi và nghe tiếng đàn Chiêu Quân.

“Tôi yêu trời nguyệt bạch

Tôi say màu thanh thiên

Tôi ưng ả thuyền quyên

Ở trong pho tình sử” (trích “Cao hứng)

“Lạy Chúa tôi! Vầng trăng cao giá lắm

Xin ban ơn bằng cách ánh thêm lên.

Ánh thêm lên cho không gian thấm đẫm

Linh hồn thơ mát rượi với hương nguyền”

(trích “Vầng trăng”)

“Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc,

Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay.

Bút đề lên nền sáng báu năm mây,

Thơ chen lấn vô trong nguồn cảm giác.”

(trích “Trường thọ”)

IV. CÁI TÔI; TRĂNG VÀ NHỮNG BIỂU TƯỢNG KHÁC (HỒN, MÁU…) TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Nói về cái tôi trong thơ Hàn Mặc Tử,

Cái tôi được phân chia ra thành nhiều cái tôi khác nhau: cái tôi trữ tình nguyên bản, cái tôi qua những biểu tượng nghệ thuật, cái tôi của những trạng thái rời bỏ ý thức… Chung quy thì phần lớn tác phẩm đều có tình trạng nhiều cái tôi cùng tồn tại:

“Ai đi lẳng lặng trên làn nước,

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng

Không nói không rằng, nín cả hơi?”

(trích “Cô liêu”)

Nói về những biểu tượng trong thơ Hàn,

Trăng cũng là một trong những một biểu tượng nghệ thuật xuất hiện trong thơ Hàn Mặc Tử nhưng nó đặc biệt hơn hết thảy. Bởi vì Hàn “đã độc chiếm nàng Trăng của thế giới thi ca làm chất liệu không gì thay thế cho những cảm xúc sáng tạo nghệ thuật ở cấp độ cao nhất.” (lời bình của Tiến sĩ Đặng Thị Ngọc Phượng). Từ cổ chí kim, trăng vốn là hình tượng/ biểu tượng gắn liền với thơ ca và thi sĩ, Lý Bạch vớt trăng, trăng đầy ắp trong 3254 câu lục bát của “Đoạn trường tân thanh” “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in chiếc gối, nửa soi dặm trường”, trăng cũng hiện hữu trong văn học Cách mạng “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Và vào thời kì Thơ Mới, nhắc đến trăng, người ta sẽ nghĩ ngay đến Hàn Mặc Tử. Ngay cái tên của anh cũng là Hàn Mạc Tử và một vầng trăng khuyết. Phần lớn các bài thơ của anh đều có sự xuất hiện của trăng và có thể nói là xuất hiện nhiều như một nỗi ám ảnh, hàng chục bài thơ có tiêu đề về trăng: “Say trăng”, “Uống trăng”, “Chơi trên trăng”, “Ngủ với trăng”, “Rượt trăng”… Ánh trăng trong thơ anh khi thì trần tục hoá, khi thì là biểu tượng cho nỗi đau day dứt, khi là một cái tôi khác của nhà thơ, khi lại là một không gian mộng… Hoài Thanh bình về ánh trăng trong tập “Máu cuồng và hồn điên”: “Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động, như một người hay đúng hơn là một yêu tinh”.

“Trăng, Trăng, Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

Ai mua trăng tôi bán trăng cho,

Không bán đoàn viên ước hẹn hò.

Bao giờ đậu trạng vinh quy đã,

Anh lại đây tôi thối chữ cho.”

(trích “Trăng vàng trăng ngọc”)

“Hôm nay còn một nửa trăng thôi,

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!

Ta nhớ mình xa thương đứt ruột,

Gió làm nên tội buổi chia phôi!” (“Một nửa trăng)

“Có ai nuốt ánh trăng vàng,

Có ai nuốt cả bóng nàng Tiên Nga.”

(trích “Uống trăng”)

“Ta đuổi theo trăng…

Trăng bay lả tả ngã trên cành vàng,

Tới đây là nơi tôi gặp được nàng,”

(trích “Rượt trăng”)

“Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên..”

(trích “Trăng tự tử”)

“Nước hoá thành trăng, trăng hoá nước

Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm.

Người trăng ăn vận toàn trăng cả,

Gò má riêng thôi lại đỏ hườm.”

(trích “Say trăng”)

Về biểu tượng hồn trong thơ Hàn, người cho rằng đấy là hiện thân của chủ nghĩa siêu thực vì nhà thơ đã ghi lại biến chuyển của vô thức trong những lần đau đớn đến xuất hồn. Hoặc hồn là một “hồn thơ”- một cái tôi khác, hoặc là biểu tượng cho niềm khao khát thoát khỏi đau thương:

“Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng,

Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây”

“Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Để cho hồn bớt nổi bi thương.

Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng,

Hồn đi rồi khôn nhập xác thê lương.”

(trích “Hồn lìa khỏi xác”)

“Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng

Cho bay lên hí hửng với ngàn khơi.”

(trích “Say trăng”)

“Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi.”

“Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng”

“Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến.”

“Hồn là ai? Là ai ? Tôi không hay

Dẫn tôi đi ròng rã một đêm nay

Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc…”

(trích “Hồn là ai?”)

Biểu tượng máu trong thơ Hàn là biểu tượng của niềm đau hoá cảm hứng, hoá nguồn sáng tạo. Máu từ cơ thể hoá mực để viết thơ, cơ hồ Hàn Mặc Tử đã gửi gắm linh hồn mình vào thơ:

“Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,

Như mê man chết điếng cả làn da”

“Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh.

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết,

Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh”

“Thét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếng,

Và muôn năm rướm máu trong không gian”

(trích “Rướm máu”)

V. TÔN GIÁO TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Hàn Mặc Tử đưa tôn giáo vào thơ và tuy là tín đồ của Thiên Chúa giáo nhưng anh lại dung hoà cả Phật giáo, Thiên Chúa giáo trong thơ của mình.

“Hỡi Sứ thần Thiên chúa Gabriel

Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ,

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?

Người có nghe náo động cả muôn trời?

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời?”

(trích “Ave Maria”)

“Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất,

Và lùa theo không biết mấy là hương.”

“Trở lại trời tu luyện với muôn đêm

Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả”

(trích “Phan Thiết! Phan Thiết!”)

VI. NHÀ THƠ ĐÓNG GÓP TỪ THƠ CŨ ĐẾN THƠ MỚI

Quay trở lại với khởi đầu của phong trào Thơ Mới, hàng chục năm về trước nhiều nền văn học trên thế giới đã chuyển giao từ thơ cổ điển sang thơ hiện đại, thì 1930-1932 thi đàn Việt Nam mới chuyển mình sang thơ mới tức thơ hiện đại. Người ta biết Hàn Mặc Tử là một tượng đài của phong trào Thơ Mới nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung nhưng có lẽ ít biết anh là một cây bút nổi bật với dòng thơ cũ. Khoảng thời gian Hàn Mặc Tử sáng tác thơ Đường luật dưới bút danh Lệ Thanh, Phong Trần không dài nhưng những bài thơ được lưu truyền đến nay đã hơn trăm bài. Ba bài thơ “Thức khuya”, “Chùa hoang” và “Gái ở chùa” của anh từng được cụ Phan Bội Châu vô cùng thích thú và tâm đắc. Cụ Sào Nam từng gửi lời đến Hàn Mặc Tử: “Từ khi về nước đến nay, được nghe nhiều về văn thơ quốc âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng, ấy là thỏa hồn thơ”. Sau đó cả hai cùng xướng hoạ thơ trên báo, Hàn Mặc Tử tìm ra Huế gặp gỡ Phan Bội Châu lúc ấy đang bị Pháp giam lỏng và thường xuyên trao đổi thư từ. Chính việc này đã khiến anh bị gạch tên ra khỏi danh sách những người được Pháp bảo trợ du học và thậm chí bị tra hỏi.

“Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.”

(trích “Thức khuya”)

“Réo rắt cành thông thay kệ đọc

Lập loè bóng đóm thế đèn treo

Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác

Vách chán đêm suông đứng dãi dầu”

(trích “Chùa hoang”)

KẾT

Một bài đăng trên mxh không thể nào nói hết về một nhà thơ lớn, một đời thơ vĩ đại. Hàn Mặc Tử sáng tác rất nhiều nhưng cái chúng ta đọc thì cơ hồ chẳng được bao nhiêu vì thơ của anh cũng chịu một số phân bi kịch không kém gì người sáng tạo ra nó. Những giai thoại về việc Thế Lữ để quên tập thơ của Hàn trên tàu nên không xuất bản được, vụ kiện thơ ầm ĩ ngay sau khi anh vừa ra đi, anh tặng tập thơ cho một ông chủ quán ăn nhưng sau đó bị xé để gói xôi…Thêm vào đó những thi phẩm tượng trưng siêu thực vốn khó để cảm nhận nhưng lại dễ dàng gây tranh cãi nên phần lớn các tác phẩm của Hàn Mặc Tử đều khó để phổ biến rộng rãi và ngay cả “Đây thôn Vĩ Dạ”- bài thơ mà mọi thế hệ đều học, đến nay vẫn nhận nhiều luồng ý kiến khác nhau về cách cảm thụ tác phẩm này.

Và với những tác phẩm nghệ thuật vị nghệ thuật mọi lời bình, mọi bài phân tích, mọi lời nhận xét đều không thể đóng khuôn được tác phẩm. Vì thi phẩm vị nghệ thuật nói riêng hay tác phẩm nghệ thuật vị nghệt thuật nói chung đều xuất phát hoàn toàn từ nội tâm của cá nhân nghệ sĩ nên không thể có chuẩn mực đánh giá kể cả ý thức của nghệ sĩ về tác phẩm của chính mình. Vẻ đẹp hay xấu và cái hay hay dở của tác phẩm là do cảm quan, thưởng thức của mỗi cá nhân người đọc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *