Tháng 3 âm lịch là tháng lễ hội đền Thái Vi Ninh Bình, ngôi đền thờ các vị vua đời Trần, ngôi đền gắn với tuổi thơ tôi mặc dù nhà tôi không ở gần đó.
Thập niên 80 của thế kỉ XX, khi bố tôi làm còn làm Chánh Văn phòng UBND Hoa Lư, người đã “trúng thầu” … đúc tượng các vua đền Thái Vi. Đó là các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thuận Thiên.
Bố kể, bác Võ Nguyên Giáp trong chuyến về thăm Hà Nam Ninh (cũ) vào đền Thái Vi, lúc này đang rất hoang tàn, ba pho tượng bị phá nát chỉ còn mỗi đầu vì bọn trộm tưởng trong thân có vàng, bác Giáp cúi lạy, bác khóc, dặn dò Hoa Lư phải phục hồi, làm tượng mới để anh linh các ngài được siêu thoát, người dân có chỗ thờ cúng. Nhưng Hoa Lư lúc ấy nghèo lắm, tiền đâu mà làm, nên bố tôi đã nhận việc này, với tinh thần “làm cho huyện nhà”.
Bạn bè của bố tôi đều biết ông rất có hoa tay, vốn là người được học hội họa và điêu khắc từ thời quân ngũ. Lần đúc tượng này ông được họa sĩ Nguyễn Phú Cường hỗ trợ kĩ thuật trong vòng hai ngày, còn chủ yếu là bố tôi, cùng một người bạn họa sĩ khác – bác May, làm từ đầu đến cuối. Khác với lần nhận thầu các công trình dân dụng khác, lần này bố tôi làm với một lòng nghiêm kính thật sự.
Hàng ngày hàng tuần anh em tôi đều chạy qua trụ sở Uỷ ban chơi, nơi ấy một thời người ta sống bao dung nhau, tạo điều kiện cho nhau làm thêm ngoài đồng lương ít ỏi. Tiếng có bố làm đến “cụ Chánh” 😁, mà nếu không kiếm việc làm thêm như vậy, thì anh em tôi không có thịt để phụ vào bữa cơm thời tem phiếu.
Tôi nhớ không chính xác, hình như nhà xe, hay tiền sảnh Uỷ ban gì đó, chính là nơi thi công bộ tượng này.
Mỗi ngày sau giờ làm việc hành chính, anh em tôi tan học, đều tò mò đến xem bố tôi, với thạch cao, đất sét, màu vẽ đã dần tạo nên dáng hình thần thái các vị vua, hồi hộp và thú vị vô cùng!
Sau mấy tháng trời – cứ ngày việc công tối việc tư, cuối cùng bộ tượng cũng hoàn thành. Công đoạn cuối cùng: thếp vàng – vàng thật nhé – tôi và anh trai Hai Dao được tham gia! Ôi chao là sung sướng! Tôi nghe người lớn nói chuyện, một chỉ vàng có thể dập thành hàng trăm tờ giấy nho nhỏ cỡ hai ngón tay, chúng tôi chỉ việc bóc lớp giấy lót rồi dát miếng vàng mỏng tang bé xíu ấy lên bức tượng, rồi dùng tay xoa cho thật đều là được.
Cảm giác một đứa trẻ nhà quê lần đầu cầm một nắm giấy vàng, thếp lên pho tượng đức vua, nó khó quên, khó tả vô cùng!
Từng xíu một, từ thạch cao, sơn hồ, cốt gỗ,… anh em tôi chứng kiến các vị vua ra đời từ lúc còn phôi thai thô mộc đến lúc long lanh rạng ngời như tỏa hào quang, cảm giác vừa cao vời vừa thân thiết!
Nhưng ấy cũng là lúc chúng tôi phải chia xa các ngài. Một tối khi đi làm về, bố bảo: tượng đã xong, các cụ đã xem ngày, ngày mai bố đưa các ngài vào đền làm lễ nhập tượng. Vậy là từ mai có chạy qua cơ quan bố chơi, anh em tôi cũng không còn thấy các ngài ngồi đó nữa, bên cạnh chúng tôi, các ngài vừa uy nghi, vừa hiền hậu, nhưng khi cất lên ban thờ trong điện, các ngài đã cách xa chúng tôi lắm rồi! Đến tận khi ấy, tôi mới thấm câu thành ngữ bà nội vẫn hay nói: “Để là cục đất, cất lên thành Phật”!
Từ khi làm lễ nhập tượng, tắm nguồn nước tinh khiết của dòng Ngô Đồng uốn lượn quanh chân núi, các ngài đã ở cõi anh linh, phù hộ độ trì cho xứ sở.
Năm 2014, tôi nghe bố kể, một doanh nghiệp tư nhân ở Ninh Bình đã đầu tư nâng cấp ngôi đền và đúc lại tượng đồng, nhưng toàn bộ tượng các vua bố tôi làm, vẫn giữ nguyên, làm cốt tượng, chỉ phủ đồng ra lớp ngoài. Vậy là anh linh các ngài độ vào tượng ấy vẫn còn nguyên, cả hồn lẫn cốt.
