Sức mạnh của Muscle memory hay là “trăm hay không bằng tay quen”

1. Có lẽ nên mở đầu bằng một câu chuyện nho nhỏ nhỉ!

Mình là người đam mê phím cơ và cũng là người rất thích “thay áo” cho mấy con phím của mình bằng việc tháo lắp các bộ keycap khác nhau. Sau rất nhiều lần tháo lắp mình gần như thuộc lòng hết vị trí của các phím cơ bản. Như là nút K sẽ đứng cạnh nút L, hay U và I luôn đi chung với nhau…bla bla. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi trong một vài trường hợp, mình bị nhầm vị trí của nút M và N, hay nút ; và ‘ , vì chúng ở cạnh bên nhau và không khác nhau quá nhiều để có thể nhận biết nếu như bạn không để ý thứ tự. Câu chuyện bắt đầu từ đây, là tuy rằng có thể lắp sai vị trí các phím với nhau, nhưng tay mình khi gõ phím lại luôn luôn gõ đúng vị trí, tức là mình gần như không để ý việc trên mặt phím in chữ gì, tay mình cứ tự động đưa đến đúng vị trí của phím cần gõ thôi. Ví dụ bạn nhầm phím M với phím N, thì khi cần gõ N, bạn vẫn gõ đúng vị trí đó, cho dù trên mặt phím in chữ M đi nữa.

Một cách lý giải cho điều đó, là trong quá trình vài năm gõ phím, dường như tay của bạn đã nhớ được vị trí các phím bấm một cách khá tương đối, điều mà cá chắc rằng nếu bạn không phải là người thường xuyên tháo và lắp các bộ keycap, bạn sẽ luôn lắp sai trong lần đầu tiên, vì dù bạn có nhìn bàn phím hàng trăm ngàn lần trong suốt cuộc đời thì sự thật khá buồn là bạn không thể nhớ hoàn toàn vị trí của các phím bấm đó. Tuy nhiên tay bạn thì có thể. Và người ta gọi đó là Muscle memory. Và Muscle memory đã chiến thắng trong thử thách ghi nhớ vị trí lần này.

Thực nghiệm cho thấy, với những người gõ phím đạt đến một trình độ cao, việc mặt phím in chữ gì gần như không còn quan trọng với họ, vì họ đã hoàn toàn dùng muscle memory để thực hiện việc nhấn chính xác vào nút mình cần mà không cần dùng đến mắt. Cái họ cần chỉ là một layout quen thuộc, và một vị trí để tay đúng. Đó là lý do tại sao phím F và phím J trên bàn phím luôn có một phần gờ nhỏ, để người dùng có thể từ đó xác định đúng vị trí để tay ngay lần đầu.

2. Muscle memory hay “kí ức cơ bắp” thật ra không được lưu trong cơ bắp, mặc dù trông có vẻ như thế thật. Nói chính xác ra thì đó là một chuỗi các tín hiệu thần kinh phức tạp được truyền từ não bộ đến các cơ, các xung điện trong tín hiệu thần kinh kích thích cơ bắp co hoặc duỗi theo đúng một “cữ” nào đó, để thực hiện chính xác hành động đó mà gần như bạn không phải quan sát hay dùng mắt để điều khiển nó. Để có muscle memory phát triển thì việc lặp đi lặp lại hành động rất quan trọng, vì càng lặp lại nhiều, liên kết thần kinh được sinh ra cho hành động đó sẽ ngày càng dày đặc, đến một mức độ nào đó, liên kết thần kinh đủ mạnh để điều khiển hành động mà thậm chí bạn còn không cần quan tâm đến việc quan sát và “điểu khiển” các cơ khớp của mình để hoạt động cho đúng nữa. Khi đó là lúc não bạn đã được giải thoát khỏi hành động lặp đi lặp lại.

Bạn còn nhớ đôi tay đau nhức, đôi chân mỏi nhừ và một cái đầu căng thẳng của những lần đầu tiên đi xe máy ra đường? Bạn còn nhớ lần cuối cùng bạn suy nghĩ xem nên kéo ga bao nhiêu là đủ, hay nên bóp thắng như thế nào để đi chậm lại, là khi nào không? Có lẽ là không nhiều. Thậm chí khi lái xe đủ lâu, bạn hoàn toàn có thể điều khiển xe khi mà suy nghĩ đang dành cho việc tìm quán ăn bên đường, hoặc là tối nay hẹn người yêu ở đâu =)))


MUSCLE MEMORY CÓ THỂ ĐƯỢC ỨNG DỤNG RẤT NHIỀU TRONG ĐỜI SỐNG NÓI CHUNG VÀ TRONG THIẾT KẾ SẢN PHẨM NÓI RIÊNG.

Trong cuộc sống, ứng dụng phổ biến nhất đó chính là “quy tắc 10,000 giờ”. Trình bày quy tắc bằng một câu đơn giản, đó là bạn sẽ trở nên thuần thục bất cứ kĩ năng nào nếu như số giờ luyện tập của bạn đạt đến con số 10,000 giờ. Cho dù đó là gõ phím, hay chơi đàn piano, guitar hay đơn giản là việc lái xe, lau nhà hằng ngày. Việc thành thục các công việc “tay chân” giúp giải phóng não bộ của bạn nhiều hơn vì bạn gần như không cần mất năng lượng để suy nghĩ việc thực hiện hành động đó, thay vào đó mọi thứ gần như “tự động”, chính xác nhờ vào muscle memory. Từ đó, bạn sẽ có nhiều thời gian, nhiều không gian não bộ hơn để suy nghĩ về những thứ khác, giúp cho hiệu suất công việc cũng như chất lượng cuộc sống của bạn tăng lên nhiều.

Trong thiết kế sản phẩm nói riêng, muscle memory liên quan nhiều nhất đến một khái niệm gọi là UX Pattern, khi mà có những quy luật liên quan đến trải nghiệm người dùng mà bạn tốt nhất là nên làm theo, thay vì cố gắng sáng tạo, thay đổi mà không chắc chắn về hiệu quả của nó.

Lấy một ví dụ trực quan nhất liên quan đến chiếc bàn phím không in chữ mình giới thiệu đầu bài. Người gõ sẽ chỉ dùng được phím nếu như vị trí phím A trên bàn phím chính là phím A, nay nói nôm na là thiết kế của bàn phím vẫn là theo layout “QWERTY” hoặc bất cứ layout nào khác mà người gõ quen thuộc. Nếu như chiếc bàn phím này đột nhiên bị thay đổi sang một layout khác, chắc chắn rằng những người quen với layout “QWERTY” sẽ vô cùng bối rối khi sử dụng nó, vì muscle memory của họ đang bị vô hiệu hóa, và họ cần rất nhiều năng lực não bộ để có thể hoàn thành công việc gõ của mình.

UX Pattern là khái niệm liên quan đến những thói quen gần như là bất biến (và phổ biến) của người dùng khi thực hiện một công việc trên sản phẩm nào đó. Pattern càng phổ biến thì việc làm khác với pattern càng khiến người dùng bối rối và phải sử dụng nhiều năng lực suy nghĩ của não bộ để học hỏi và làm quen với điều mới nhiều hơn. Và mặc dù người dùng có khả năng thích ứng cao, thì việc không-làm-theo-pattern nên (rất nên) được tính toán kĩ, để hướng tới mục tiêu tối quan trọng là mang lại trải nghiệm tốt, an toàn và nhanh gọn cho người dùng. Sẽ rất khó chịu cho người dùng máy tính nếu phím chuột trái – phải của họ bị đảo lộn, nhưng sẽ càng cực kì nguy hiểm hơn cho người dùng nếu một ngày nào đó có một nhà sản xuất xe hơi đảo ngược chân thắng và chân ga với nhau. Muscle memory khi được đặt vào một tình huống khác lạ, không chỉ vô dụng mà đôi khi sẽ là thứ gây nên những tai họa. Vì thế, hãy thật cân nhắc khi thiết kế của bạn không-làm-theo-pattern, đừng cố gắng tạo ra một con chuột có nút trái phải bị đảo ngược, cũng đừng cố gắng tạo ra một cái xe đạp mà người ta phải đạp ngược để tiến lên. Mọi thứ thay đổi đều phải trả giá, đôi khi trả giá bằng sự khó chịu ban đầu, nhưng đôi khi người dùng sẽ phải trả giá bằng cả tính mạng.

P.s: Một số ví dụ về việc tạo sự khác biệt mà không gây hậu quả nghiêm trọng:

– Bộ 3 nút điều khiển cửa sổ của MacOS nằm bên trái, của Windows nằm bên phải. Nhưng dùng thì quen, chả sao cả 

– Người Việt Nam thỉnh thoảng vẫn cãi nhau xem VNI hay Telex là kiểu gõ tốt hơn. Nhưng thật ra chẳng có cái nào tốt hơn cả, ai dùng quen cái nào thì bảo cái đấy tốt hơn thôi. Mình dùng cả 2 :))

Ai có thêm ví dụ gì nữa thì chia sẻ cho mình biết nhé.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *