Luận bàn về nguồn gốc, bản chất, hình thức, chức năng và phương thức hoạt động của pháp luật, các học giả ở mỗi thời kỳ, với quan điểm bất đồng đã cho ra đời những học thuyết mà sau đó được gộp lại trở thành những trường phái pháp luật khác nhau. Đến nay, các trường phái pháp luật ngày càng được hoàn thiện và phát triển, thậm chí là tiến gần và hòa nhịp để có thể phát huy các ưu điểm và khắc phục nhược điểm của nhau.
Có hai trong số nhiều trường phái pháp luật tiêu biểu thường được nhắc đến, đó là: (1) Trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law), (2) Trường phái pháp luật thực chứng (Positive Law). Đại diện cho những quan điểm pháp luật khác nhau, chúng đều có những ưu, nhược điểm riêng.
1. Trường pháp pháp luật đầu tiên phải kể đến là trường phái pháp luật tự nhiên. Trường phái này xuất hiện từ thời cổ đại với những quan điểm nền tảng do các triết gia Arixtotle, Xocrat, Xixeron… khởi xướng, và trở thành một trong những khuynh hướng chủ yếu về nhận thức pháp luật thời kỳ đương đại với hàng loạt tên tuổi lỗi lạc như John Locke, Vonter, Montesquieu, Russo…
Quan điểm căn bản nhất của trường phái pháp luật tự nhiên là: Pháp luật tự nhiên là tổng hợp các quyền mà tất cả mọi người có được từ tạo hóa tự nhiên, từ lúc sinh ra và bất khả xâm phạm, là lý trí và công bằng không bị giới hạn bởi lãnh thổ các quốc gia, dân tộc.
Suy ra được rằng, trường phái này cho rằng pháp luật thực định được và chỉ được đặt ra để hiện thực hóa những thứ luật lệ ra đời trước cả các nhà nước đầu tiên và len lỏi trong mọi quan hệ của đời sống. Chúng được sử dụng để ghi nhận và bảo đảm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân – những quyền lợi người dân không tự nguyện từ bỏ khi thực hiện khế ước xã hội và không bị giới hạn bởi nhà nước.
Có thể thấy, ưu điểm thứ nhất của trường phái này là tôn trọng tối đa ý chí, tiếng nói và quyền lợi của người dân, cho dù là nhóm thiểu số. Ưu điểm thứ hai, như một hệ quả tất yếu và song hành, giới hạn được quyền lực của nhà nước, đặt nhà nước dưới sự chi phối của pháp luật với vị thế ngang bằng một cá nhân.
Bên cạnh đó, trường phái pháp luật tự nhiên đề cao tính lý trí đạo đức của con người. Quy trình xét xử và bản án dựa vào sự đánh giá đạo đức, hay chính xác hơn là dựa trên các luân lý xã hội, cộng đồng.
Nhờ đó, pháp luật tự nhiên có ưu điểm thứ ba là sự linh hoạt và đa dạng trong việc áp dụng luật do có thể xét xử mọi vụ việc dựa trên bản chất đạo đức của chúng. Và từ đó đưa đến ưu điểm thứ tư là tính ổn định, ít thay đổi của pháp luật do chỉ cần quy định những vấn đề, giá trị cốt lõi.
Dù có những ưu điểm rõ rệt, pháp luật tự nhiên vẫn có những nhược điểm nhất định. Do việc các giá trị đạo đức, luân lý không thống nhất giữa các cộng đồng dân cư khác nhau dẫn đến nhược điểm thứ nhất là pháp luật không thống nhất và phổ biến và nhược điểm thứ hai là có thể tồn tại các quan niệm cộng đồng lỗi thời và các hủ tục. Từ đó, ta có nhược điểm thứ ba là sự thiên kiến của người xét xử khi giải thích pháp luật, tức là giải thích tính đạo đức của vụ việc bởi tính không rõ ràng của luật, dễ dẫn đến oan sai.
2. Trường phái pháp luật thứ hai, thứ được coi là đối trọng trực tiếp của trường pháp luật tự nhiên, là trường phái pháp luật thực chứng. Trường phái này gắn liền với các nhà tư tưởng như H. Kelsen, Jean Bodin, Jaques Bousset, Niccolo Machiavelli.
Trường phái pháp luật thực chứng cho rằng các quyền chủ quan xuất phát từ pháp luật khách quan do nhà nước sáng tạo và ban hành. Nhà nước sáng tạo, đưa ra luật, quy định quyền và nghĩa vụ của cá nhân.
Từ quan điểm trên, ta thấy được ưu điểm thứ nhất của trường phái này là tính xác định, thống nhất, rõ ràng của luật do chỉ có một chủ thể ban hành và chi phối. Từ đây, thấy được ưu điểm thứ hai là người xét xử không thể bị thiên kiến khi áp dụng luật.
Tuy nhiên, cũng có các nhược điểm dễ thấy. Nhược điểm thứ nhất là sự độc quyền pháp luật của nhà nước dẫn đến bành trướng quyền lực. Từ đó, như một hệ quả, nhược điểm thứ hai là việc quyền cá nhân bị bóp nghẹt, bị co ép và thụ động, phụ thuộc vào nhà nước.
Bên cạnh đó có thể xuất hiện nhược điểm thứ ba, trình độ lập pháp không cao.
Nhược điểm thứ tư là sự cứng nhắc trong xét xử do người xét xử không thể tự mình xử lý những vấn đề ngoài luật.
Bên cạnh đó, nhược điểm thứ năm là pháp luật dễ bị tủn mủn, dài dòng do nhà nước muốn chi phối mọi mối quan hệ và nhược điểm thứ sáu là chúng dễ thay đổi do người làm luật không đủ khả năng dự đoán mọi vấn đề và quan hệ xã hội mà luật quy định.
Trên đây là sơ lược về hai trường phái pháp luật đương đại tiêu biểu và các ưu, nhược điểm của chúng. Có thể thấy rằng, một cây làm chẳng nên non, nếu đứng riêng rẽ, các trường phái này đều có những lỗ hổng không phù hợp với quá trình xây dựng những hệ thống pháp luật tiến bộ, đề cao tính pháp quyền. Do đó, chúng phải được phối, kết hợp một cách linh hoạt, hài hòa với mục tiêu pháp quyền, tiến bộ hóa hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân./.
Tài liệu tham khảo:
1. GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế (2018), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn: Tổng hợp và diễn giải bởi @Đỗ Vũ
*Tên bài viết được đặt theo tên sự kiện sinh hoạt chuyên môn của CLB Luật Gia Trẻ – Khoa Luật, ĐHQGHN
*Ảnh: Bài giảng “Introduction to Legal Theories – Chapter 3” – Molly Glenn
