Thứ hai, ngày 12/01/2026 15:00 GMT+7
Tào Nga Thứ hai, ngày 12/01/2026 15:00 GMT+7
Việc sách giáo khoa Ngữ văn 9 ghi tác giả bài thơ “Nam quốc sơn hà” là “khuyết danh” tạo cơ hội để học sinh hiểu rằng tri thức trong sách giáo khoa có thể được bổ sung, điều chỉnh theo sự phát triển của khoa học lịch sử.
Tranh cãi SGK ghi bài thơ “Nam quốc sơn hà” là “khuyết danh”: Tri thức trong sách giáo khoa có thể được bổ sung, điều chỉnh
Trước tranh cãi SGK ghi bài thơ “Nam quốc sơn hà” là “khuyết danh”, trao đổi với PV Báo điện tử Dân Việt, PGS.TS Lê Thị Thuỳ Vinh, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nêu ý kiến: “Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trong suốt một thời gian dài sau đó, giới sử học và văn học Việt Nam hầu như thống nhất khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt.
Quan điểm này được ghi nhận trong nhiều công trình có ảnh hưởng lớn như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm hay Lịch sử văn học Việt Nam của Đinh Gia Khánh…, từ đó các sách giáo khoa trước đây cũng ghi rõ tác giả là Lý Thường Kiệt.

Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề tác giả và thời điểm ra đời của bài thơ vẫn còn nhiều điểm chưa thể khẳng định dứt khoát.
Giáo sư Hà Văn Tấn- nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam) trong bài “Lịch sử, sự thật và sử học” năm 1988 khẳng định: “Không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả”. Qua đó đặt lại vấn đề dựa trên cơ sở sử liệu.
Trên tinh thần ấy, GS-NGND Bùi Duy Tân, một trong những chuyên gia đầu ngành về văn học cổ Việt Nam, trong bài: Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt, cũng đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học để khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là khuyết danh, không phải của Lý Thường Kiệt như chủ thuyết trước đây.
Gần đây hơn, trong bài viết “Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà”, PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, nguyên cán bộ nghiên cứu Viện Nghiên cứu Hán Nôm, hiện công tác tại Đại học Thăng Long cho rằng, tác phẩm gắn với Lê Đại Hành và cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 – cuộc kháng chiến vĩ đại đầu tiên của dân tộc sau khi giành được độc lập. Theo bà, tác giả bài thơ có thể là một trí thức đương thời, người trực tiếp chứng kiến hoặc tham gia vào không khí chiến đấu sục sôi chống xâm lược. Từ những kết quả nghiên cứu đó, việc sách giáo khoa Ngữ văn 9 (bộ Cánh Diều) ghi tác giả bài thơ là “Khuyết danh” là lựa chọn thận trọng, khoa học và phù hợp với những nhận thức mới của giới nghiên cứu hiện nay”.
Tuy nhiên, qua câu chuyện này theo PGS.TS Lê Thị Thuỳ Vinh: “Ở góc độ của một nhà giáo dục, tôi cho rằng trước những ý kiến dư luận cho rằng việc ghi tác giả Nam quốc sơn hà là Khuyết danh “không phù hợp”, phụ huynh và học sinh cần tiếp cận vấn đề với tinh thần bình tĩnh, khoa học và cởi mở.

Trước hết, cần hiểu rằng giáo dục hiện đại không chỉ truyền đạt tri thức đã “đóng khung” mà còn giúp người học làm quen với tư duy nghiên cứu, biết tôn trọng sự thật lịch sử và những phát hiện khoa học mới.
Việc SGK ghi “Khuyết danh” không phải là phủ nhận vai trò lịch sử của Lý Thường Kiệt hay làm giảm ý nghĩa yêu nước của bài thơ mà phản ánh thái độ thận trọng trước những vấn đề học thuật còn đang có nhiều cách lý giải khác nhau. Đây là biểu hiện của tinh thần khoa học, chứ không phải sự “xem nhẹ truyền thống”.
Đối với phụ huynh, điều quan trọng là đồng hành cùng con trong việc giải thích bối cảnh: từ lâu bài thơ gắn với Lý Thường Kiệt trong tâm thức dân tộc nhưng khoa học lịch sử đòi hỏi phải dựa trên sử liệu xác thực. Khi chưa có bằng chứng đủ sức thuyết phục, việc để tác giả là khuyết danh là hợp lý. Phụ huynh nên khuyến khích con nhìn nhận vấn đề đa chiều, không vội vàng quy kết đúng- sai theo cảm tính hay theo dư luận.
Đối với học sinh, cần hiểu rằng giá trị lớn nhất của Nam quốc sơn hà không nằm ở việc biết chính xác tên tác giả mà ở nội dung tư tưởng và ý nghĩa lịch sử của bài thơ, một bản tuyên ngôn độc lập sớm của dân tộc Việt Nam. Việc học bài thơ hôm nay cũng là cơ hội để các em rèn luyện năng lực phản biện, biết rằng tri thức trong sách giáo khoa có thể được bổ sung, điều chỉnh khi nhận thức khoa học phát triển”.
Nhiều người chưa sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi trong giáo dục
Theo Th.S Vũ Thị Thanh Tâm, người sáng lập dự án phát triển văn hóa đọc “Ô cửa sách”, từng giảng dạy tại Trường Phổ thông Năng khiếu và Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM), việc dạy “Nam quốc sơn hà” như một bài thơ chưa xác định tác giả không làm suy giảm tinh thần yêu nước của học sinh. Trái lại, cách tiếp cận này còn giúp làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc, mở rộng hiểu biết lịch sử ra nhiều triều đại, đồng thời giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa, tâm linh của nước Việt từ ngàn xưa.
Bà cho rằng, nếu chỉ giảng dạy “Nam quốc sơn hà” như một bài thơ do Lý Thường Kiệt sáng tác, học sinh chủ yếu sẽ ghi nhớ tài năng của một danh tướng đời Lý. Cách tiếp cận ấy dễ thu hẹp ý nghĩa tác phẩm vào hình tượng một cá nhân anh hùng, trong khi giá trị cốt lõi của bài thơ vượt lên trên phạm vi một sáng tác cá nhân.
Theo bà Tâm, “Nam quốc sơn hà” cần được hiểu không phải như một tác phẩm văn chương theo nghĩa thông thường, mà là sản phẩm ngôn từ mang tính nghi lễ – chính trị – tâm linh. Đây là lời tuyên cáo của cả dân tộc trước trời đất và kẻ thù, lý giải vì sao tác phẩm tồn tại nhiều dị bản, không xác quyết tác giả và được gọi là “Thơ Thần”. Chủ thể phát ngôn của bài thơ chính là non sông, lịch sử và chính nghĩa.
Lý giải nguyên nhân khiến sách giáo khoa mới gặp phải những phản ứng trái chiều, bà Tâm cho rằng nhiều người chưa sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi so với những kiến thức từng được học trước đây. Một số lo ngại sự thay đổi này có thể tạo ra khác biệt nhận thức giữa các thế hệ hoặc ảnh hưởng đến lòng yêu nước của học sinh. Tuy nhiên, theo bà, những lo ngại này là không có cơ sở.
Từ đó, Th.S Vũ Thị Thanh Tâm đề xuất Bộ GDĐT và các trường đại học cần tổ chức các hội thảo khoa học để làm rõ những thay đổi kiến thức trong sách giáo khoa mới so với sách cũ, đồng thời đẩy mạnh truyền thông không chỉ qua báo chí mà cả trên mạng xã hội. Theo bà, truyền thông của ngành giáo dục cần chủ động đi trước, thay vì chỉ phản ứng khi xuất hiện tranh luận trong dư luận.