Thứ hai, ngày 19/01/2026 12:51 GMT+7
Gia Khiêm Thứ hai, ngày 19/01/2026 12:51 GMT+7
Chỉ trong ba tháng, người phụ nữ 32 tuổi quê Sơn La hai lần bị đột quỵ, từng hôn mê sâu, thở máy và được tiên lượng không còn cơ hội sống. Thế nhưng bằng nghị lực, sự tận tình của các y bác sĩ chị đã vượt qua lằn ranh sinh tử.
Vượt qua cửa tử vì đột quỵ
Cuối tháng 4/2025, chị Nguyễn Ngọc Huyền (32 tuổi, quê Sơn La) trong một lần dọn nhà cửa thì cảm nhận hai bên tai giật mạnh liên tiếp. Linh cảm có điều bất thường, chị Huyền vội gọi điện cho chồng. Cuộc gọi vừa kết nối chưa đầy 10 giây, chị ngã quỵ và rơi vào hôn mê sâu.
Tại bệnh viện, các bác sĩ ghi nhận tình trạng nguy kịch: Chỉ số sinh tồn thấp, đồng tử giãn, xuất huyết vùng cầu não – khu vực đặc biệt nguy hiểm vì liên quan trực tiếp đến hô hấp và tuần hoàn. Tiên lượng ban đầu rất dè dặt, gia đình được khuyên chuẩn bị tinh thần cho kịch bản xấu nhất.

Trong những giờ phút ấy, dù không thể mở mắt hay cử động, chị Huyền vẫn còn ý thức. Chị nghe rõ tiếng chồng bật khóc bên giường bệnh, nghe cả những trao đổi ngắn gọn, nặng nề của bác sĩ. “Nếu qua được đêm nay, sáng mai mới có thể tính tiếp”, đó là câu nói bác sĩ truyền đạt với gia đình mà chị nhớ nhất.
Đến sáng hôm sau, kết quả chụp chiếu cho thấy khối xuất huyết quá nặng, không thể phẫu thuật can thiệp. Người phụ nữ ngoài 30 tuổi tiếp tục được điều trị tích cực, duy trì sự sống bằng máy móc, cơ hội hồi phục được đánh giá là vô cùng mong manh.
Ba ngày đầu tại Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai chị may mắn giữ được tính mạng nhưng lập tức đối mặt với hàng loạt biến chứng mới: suy tim, xuất hiện cơn ngưng thở khi ngủ, buộc các bác sĩ phải theo dõi sát sao.

Những ngày tháng ở Bệnh viện Bạch Mai, chị Huyền luôn được chồng con và gia đình đồng hành, động viên.
Sau 5-7 ngày điều trị hồi sức tích cực, Huyền được rút máy thở. Tuy nhiên, cơ thể khi ấy suy kiệt nghiêm trọng, chị không thể tự ngồi dậy, mọi sinh hoạt đều cần trợ giúp.
Nhìn lại thời điểm trước biến cố, chị Huyền cho biết chị gần như không có dấu hiệu cảnh báo rõ rệt. Vài ngày trước khi đột quỵ, chị chỉ bị đau đầu nhẹ và nghĩ do thời tiết thay đổi. Khi đi khám, bác sĩ chẩn đoán thoái hóa đốt sống cổ, điều này càng khiến chị chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ đột quỵ ở tuổi còn rất trẻ.
Sau khi rút máy thở, những di chứng nặng nề lần lượt xuất hiện. Chị Huyền bị rối loạn nuốt, liệt dây thanh quản nên không thể giao tiếp bằng lời nói, viêm phổi kéo dài, phổi trái gần như xẹp hoàn toàn. Chị mất khả năng đi lại, cơ thể gầy rộc, sức lực cạn kiệt. Từ một người phụ nữ nhanh nhẹn, độc lập chị trở nên phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.
Chồng chị Huyền sau đó cũng nghỉ làm dài ngày, túc trực bên vợ, cõng vợ đi vệ sinh, chăm sóc từng bữa ăn, giấc ngủ. Có lúc chị thấy mình trở thành gánh nặng cho gia đình nhưng chính chồng đã luôn túc trực động viên, vực chị dậy khỏi suy nghĩ đó.
Hơn hai tháng điều trị liên tục, chị đi qua nhiều khoa khác nhau ở Bệnh viện Bạch Mai: Đột quỵ, Tim mạch, ICU, Hồi sức tích cực rồi Phục hồi chức năng. Tổng cộng, chị Huyền trải qua 108 lần lấy máu xét nghiệm, 18 lần chẩn đoán hình ảnh.
Ngày được xuất viện, chị Huyền chưa thể tự đi lại, chưa nói tròn tiếng. Trở về nhà, hành trình phục hồi thực sự mới bắt đầu. Chị học lại cách thở sao cho đủ và đều, tập phát âm từng âm tiết như đứa trẻ mới tập nói. Mỗi bước đi là một lần thử thách, chị phải bám vào tường, vào tay chồng để nhích từng chút. Những bài tập tưởng chừng đơn giản lại khiến chị mệt lả, nhưng không ngày nào chị cho phép mình bỏ cuộc.
Không được chủ quan trước dấu hiệu cảnh báo đột quỵ
Cuối tháng 7, khi mọi thứ chưa kịp ổn định, chị bị đột quỵ lần nữa, chỉ một tháng sau khi xuất viện. Ký ức ám ảnh về những ngày phụ thuộc máy thở khiến chị kiên quyết từ chối đặt lại ống thở, mong muốn được tự thở dù biết rủi ro rất lớn.

“Tôi sợ cảm giác bị máy móc kiểm soát, sợ mình không còn làm chủ được cơ thể và tinh thần”, chị nói và cho hay, quãng thời gian sống trong ICU đã để lại dư chấn tâm lý nặng nề, khiến chị rơi vào trạng thái lo âu kéo dài.
Kết quả chẩn đoán sau đó xác định nguyên nhân gây xuất huyết não là một khối u trong não; tuy nhiên thời điểm này chưa cho phép can thiệp ngay. Các bác sĩ khuyên chị ổn định sức khỏe, theo dõi sát và chờ khoảng 6 tháng để tái khám, từ đó mới cân nhắc các phương án như xạ trị hoặc phẫu thuật.
“Sau lần đột quỵ thứ hai, nhiều di chứng cũ tái phát. Tôi tiếp tục bị rối loạn nuốt, nói ngọng, ăn uống chậm chạp, chân yếu và nhanh mệt. Dù vậy, tôi vẫn duy trì thói quen tập luyện mỗi ngày, từ những bài dưỡng sinh nhẹ nhàng đến việc tự đi lại và làm các việc nhà đơn giản”, chị Huyền bộc bạch.

Bốn tháng sau ngày xuất viện, Huyền đã có thể sinh hoạt gần như độc lập. Chị không còn xem mình là người bất hạnh. Với chị, điều quý giá nhất sau những lần vượt qua lằn ranh sinh tử là nhận ra sức mạnh nội tại của bản thân và giá trị của tình thân.
“Tôi mạnh mẽ hơn tôi từng nghĩ. Nếu không có gia đình, đặc biệt là chồng, có lẽ tôi đã không thể đi được đến hôm nay. Từ trải nghiệm của mình, tôi muốn nhắn nhủ các bạn trẻ không nên chủ quan trước các dấu hiệu đột quỵ, dù chỉ là thoáng qua. Cảm giác tê bì hoặc yếu liệt một bên cơ thể, méo miệng, nói khó, chóng mặt, mất thăng bằng hay cơn đau đầu dữ dội xuất hiện đột ngột đều là những tín hiệu cần được thăm khám ngay”, chị Huyền khuyên.
Với chị, được sống, được tập đi, tập nói mỗi ngày đã là một món quà, đủ để tiếp tục kiên trì trên con đường phục hồi còn dài phía trước. Ở nơi đó, chị có gia đình hai bên nội ngoại luôn hỗ trợ, có chồng con quan tâm, bên cạnh và đồng hành lúc khó khăn nhất.
GS Mai Duy Tôn, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trước đây tỉ lệ hồi phục ở bệnh nhân đột quỵ chỉ 25%, có 25% bệnh nhân tử vong và 50% để lại di chứng. Tuy nhiên khi áp dụng kỹ thuật mới, bệnh nhân đột quỵ được cấp cứu kịp thời trong giờ vàng, người bệnh gần như trở lại trạng thái bình thường đạt trên 50%, thậm chí 60 – 70%, tỉ lệ này tương tự các nước phát triển.
Theo GS Tôn, đối với bệnh nhân đến muộn, nhờ phương pháp điều trị chuyên sâu tại các đơn vị đột quỵ, tỉ lệ biến chứng tử vong, di chứng tàn phế giảm đi rất nhiều. Nhiều bệnh nhân được điều trị phối hợp điều trị hồi sức chuyên sâu, tập phục hồi chức năng sớm giúp phục hồi tốt hơn so với trước đây.
“Bên cạnh đó, quan trọng là người dân, y bác sĩ đã có nhiều kiến thức về đột quỵ. Người dân biết được những nguy cơ dẫn đến đột quỵ từ những thói quen, lối sống không tốt như uống rượu bia, hút thuốc lá, lười vận động… để thay đổi lối sống. Họ cũng nhận biết được những dấu hiệu đột quỵ để đến viện kịp thời”, GS Tôn cho biết thêm.