HỒ QUÝ LY (1336 – 1407),
VỊ VUA NÀY TRONG MẮT BẠN LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?
Tên thật:
– Lê Quý Ly – 黎季犛
– Hồ Quý Ly – 胡季犛
– Hồ Nhất Nguyên – 胡一元
Biểu tự:
– Lý Nguyên – 理元
Quê: Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa).
Gốc: Chiết Giang, Trung Quốc.
Tổ tiên: Hồ Hưng Dật – 胡興逸 (907 -?)
ĐÔI NÉT VỀ NGUYÊN TỔ HỌ HỒ – HỒ HƯNG DẬT
– Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hồ Hưng Dật là người Chiết Giang, Trung Quốc (đời Hậu Hán – thời Ngũ Quí)
– Chính sách Hậu Hán tàn bạo: Triều đình ban lệnh kẻ nào lén giữ một tấc da bò, không nộp hết cho triều đình thì xử tử => Dân chúng trốn thuế, lánh đi.
– Đỗ Trạng nguyên, Hồ Hưng Dật liền nam tiến từ Chiết Giang xuống Giao Châu, để tránh Hán hoá, ông đến Lạc Việt, hoà nhập với cộng đồng.
– Đến Hoan Châu, ông quen Đinh Công Trứ (thân sinh Đinh Bộ Lĩnh).
– Đinh Bộ Lĩnh dấy quân dẹp loạn 12 sứ quân, có đến gặp ông, thăm dò xem ông có tham gia dấy quân không. Ông có góp ý với Đinh Bộ Lĩnh về kế hoạch dẹp loạn. Còn việc tham gia thì ông uyển chuyển rằng ông mới lưu lạc đến, chỉ xin “vạn đại vi dân”.
– Sau nổi loạn 12 sứ quân, Hồ Hưng Dật sang làm thái thú Diễn Châu, sau đến hương Bào Đột (xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) lập nghiệp, làm trại chủ.
(nay là xã Quỳnh Lâm, tỉnh Nghệ An)
– Hơn một nghìn năm từ khi nguyên tổ Hồ Hưng Dật định vị ở Giao Châu, con cháu họ Hồ (đến nay hơn 40 đời) tiếp thu giáo huấn của nguyên tổ, phấn đấu làm tròn nhiệm vụ công dân nước Việt.
– Thời Lý, trong họ có người lấy Nguyệt Đích Công chúa, sinh ra Nguyệt Đoan Công chúa.
– Đời cháu thứ 12 của Hồ Hưng Dật là Hồ Liêm dời đến hương Đại Lại, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
– Hồ Liêm làm con nuôi của Tuyên úy Lê Huấn.
– Hồ Liêm đổi họ Lê.
– Hồ Quý Ly là cháu 4 đời của Lê Huấn, cháu 16 đời của Hồ Hưng Dật, khi lên làm vua thì đổi lại họ Hồ, tên Nhất Nguyên.
– Theo Minh thực lục, Lê Quý Ly là con của một cựu võ quan là Lê Quốc Mạo hoặc Lê Quốc Kỳ.
LỜI CHỈ TRÍCH HỒ QUÝ LY
Khuyết điểm lớn nhất của Hồ Quý Ly là lạm sát.
Lừa Trần Nghệ Tông giết Trần Phế Đế, giết Trần Thuận Tông và gần hết thân vương, tôn thất nhà Trần. Ngoài ra, ông còn giết nhiều đại thần đã từng theo ông như tướng quân Nguyễn Đa Phương là con của sư phụ ông, em kết nghĩa với ông, có nhiều công lao dẹp giặc và đánh quân Chiêm.
Tổng hơn 270 người, dù cho tất cả vua quan bị ông giết đều âm mưu hãm hại ông và phạm tội với triều đình nhưng chính việc lạm sát này đã khiến ông không cố kết được tâm nhân, lòng dân oán hận.
Trước khi chiến tranh xảy ra, Hồ Nguyên Trừng có nói:
“Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không mà thôi”
Vậy là mất nước…
Khuyết điểm kế tiếp của ông theo luân lý Nho giáo đương thời mà nói thì là “đại nghịch bất đạo”, bề tôi mà cướp ngôi vua.
Hồ Quý Ly đã chịu tội cướp ngôi, lại chịu thêm tội danh mất nước. Các sử gia không tiếc lời chỉ trích ông, thậm chí một số còn không coi nhà Hồ như một triều đại “chính thống”.
Ở đây ta cần luận giải cho rõ ràng, nếu xét theo quan niệm “chính thống” của Nho giáo thì ở nước ta, những triều đại rực rỡ cũng không phải luôn đáp ứng được tiêu chí “chính thống”.
Bạn cứ để ý mà xem, “đại nghịch bất đạo” bề tôi mà cướp ngôi vua còn thiếu à?
Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ đều là quyền thần có được ngôi vị nhờ vào vây cánh ủng hộ. Lê Đại Hành nắm quyền quân đội, Lý Thái Tổ thao túng cả triều đình. Nhà Trần lên ngôi cũng do Trần Thủ Độ sắp xếp, họ Trần từng bước nắm hết quyền lực của họ Lý, khi đổi ngôi đã giết hại rất nhiều tôn thất nhà Lý, v..v…
Vậy thì khác biệt là ở đâu?
Chính là dù cướp ngôi nhưng lập được chiến công chống giặc, hay có đức dày tạo phúc cho dân nên từ chỗ không “chính thống”, đều trở thành “hợp với mệnh trời”. Chỉ riêng họ Hồ không hoàn thành được sứ mệnh lịch sử, nên bị công luận lên án gay gắt như vậy.
Theo sử sách, Hồ Quý Ly gốc Chiết Giang (Trung Quốc). Đặt tên nước là Đại Ngu có ý hướng về Trung Quốc (Nghiêu-Thuấn).
Theo tôi, đó cũng chỉ là giả thuyết của sử gia, chữ “Ngu” đâu cứ phải lấy từ “Ngu Thuấn” đâu. Và Hồ Quý Ly là cháu đời thứ 16 của Hồ Hưng Dật rồi, cái gốc gác Chiết Giang của ông theo nguyên tổ định cư ở đất Lạc Việt đã bay đến cả gần nghìn năm về trước, cớ gì mà Hồ Quý Ly còn hướng về Trung Quốc kia chứ?
Đại Ngu, cứ lấy nghĩa như mặt chữ đi, bớt suy diễn lại một chút sẽ tốt hơn đấy.
Mà đó là “theo tôi” giờ thì theo sử sách xem sao đã.
Giả như Hồ Quý Ly hướng về Trung Quốc thật đi, vậy thì sao ông lại hết mực phê phán Nho Giáo?
Sao không dùng chữ Hán mà đưa chữ Nôm vào dạy phổ thông?
Sao ông quyết không chịu hàng quân Minh mà chọn đánh đến cùng như thế?
Và người Nam phản bội ông chứ nào phải ông không giữ đất đâu?
Như vậy, trong khi sử sách phong kiến coi Hồ Quý Ly thuần túy là một con người vì lòng tham mà thoán đoạt ngôi vua thì sử sách của thời đại mới lại nhìn nhận Hồ Quý Ly là một nhà cải cách đã bị buộc phải dùng đến biện pháp mạnh nhất là giành lấy ngôi vị để cải cách.
CHÚNG TA ĐÃ CÓ MỘT THIÊN HOÀNG MINH TRỊ TỪ THẾ KỶ XV RỒI
a) Về Chính Trị
– Cải tổ hàng ngũ võ quan, thay thế các võ quan cao cấp do quý tộc tôn thất nhà Trần nắm giữ bằng những người không phải họ Trần nhưng có tài và thân cận với mình.
– Đặt quy chế hệ thống quan lại địa phương, thống nhất việc quản lý từ trên xuống. Các chức an phủ sứ ở lộ phải quản toàn bộ các lộ, phủ, châu, huyện trong lộ mình, ngoài ra quản chung toàn bộ các việc về hộ tịch, thuế khóa và kiện tụng. Lộ trực tiếp chịu trách nhiệm trước trung ương, như thế có nghĩa là thắt chặt hơn về mặt chính trị và nâng cao quyền lực của nhà nước trung ương. Đi theo xu hướng trung ương tập quyền.
– Đặt lệ cử các quan ở triều đình về các lộ thăm hỏi đời sống nhân dân và tìm hiểu tình hình làm việc của quan lại để thăng hay giáng chức.
b) Về Kinh Tế – Tài Chính
– Phát hành tiền giấy, gọi là “Thông bảo hội sao”, bỏ việc dùng tiền đồng, ai không dùng tiền giấy thì phạt. Quan điểm của Hồ Quý Ly, đồng là dùng trong kỹ thuật quân sự không phải để giao dịch hàng hoá. Có điều tiền giấy ngày ấy khó bảo quản, kỹ thuật in ấn còn kém dễ phai màu trong nước mưa, tiền đồng lại bền hơn.
– Phép hạn điền, hạn chế sở hữu ruộng tư. Theo phép hạn điền, trừ đại vương và trưởng công chúa, còn từ quý tộc cho đến thứ dân đều bị hạn chế ruộng tư (tối đa 10 mẫu), cho phép lấy ruộng tư chuộc tội. Tiến hành đo đạc lại ruộng đất, diện tích thừa phải sung công, khôi phục chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất. Đánh mạnh vào thế lực của tầng lớp quý tộc điền trang và địa chủ tư hữu, tăng thu nhập sưu thuế cho nhà nước.
– Đổi mới chế độ thuế khóa. Mức thuế đối với ruộng đất công làng xã là 1/3 sản lượng. Đó là mức thuế nhẹ mà nông dân các làng xã có thể chịu được. Đối với ruộng đất tư hữu, tăng thuế từ 3 thăng/1 mẫu (thời Trần) lên 5 thăng/1 mẫu. Người không có đất, goá bụa, mồ côi được miễn thuế
c) Về Xã Hội
– Phép hạn nô, hạn chế số nô tì trong các điền trang, số thừa ra (những nô tì không có chúc thư 3 đời) bị sung công, bồi thường cho chủ 5 quan/một người. Các loại gia nô phải thích dấu hiệu vào trán. Phép hạn nô đã chuyển một số lớn gia nô thành quan nô (nô tì nhà nước, họ có thay đổi về thân phận, nhưng vẫn không được giải phóng). (Đây chính là điều gây đụng chạm đến lớp quý tộc nhà Trần)
– Thiết lập sở “Quản tế” – một loại bệnh viện công, chữa bệnh bằng châm cứu; lập kho bán thóc rẻ cho người nghèo.
– Ban hành cân, thước, đấu, thưng để thống nhất đo lường.
– Lập hộ tịch, cứ 2 tuổi trở lên phải kê khai, ẩn náu phải phạt.
– Những năm có nạn đói, nhà Hồ lệnh cho các quan địa phương đi khám xét, bắt nhà giàu thừa thóc phải bán cho dân đói và tổ chức nơi chữa bệnh cho dân.
d) Về Văn Hoá – Giáo Dục
– Ngay sau khi lên ngôi, ông mở khoa thi Hội (Thái học sinh) lấy đỗ 20 người (trong đó có Nguyễn Trãi)
– Mở rộng hệ thống giáo dục ở địa phương, đặt các học quan, cấp học điền.
– Mở trường học ở các lộ, châu, phủ có quan giáo thụ trông coi, đôn đốc việc học. Các lớp học miễn phí được dựng lên tại các lỵ sở, phủ trong khi trước đó trường công lập chỉ có ở Thăng Long.
– Cải tổ quy chế, nội dung khoa cử. Ấn định phép thi 4 trường, bỏ ám tả cổ văn thay vào kinh nghĩa. Đặt ra cấp thi hương.
– Cho lập một thư viện trên núi Lạn Kha và dùng Trần Tôn làm viện trưởng để dạy học trò.
– Chấn chỉnh Phật giáo và Nho giáo. Ông hạn chế Phật giáo, Đạo giáo, cực lực phê phán Nho giáo chuộng hình thức, đề cao Nho giáo thực dụng, chống giáo điều, kết hợp với tinh thần Pháp gia.
– Cho sa thải tăng đạo dưới 50 tuổi, bắt hoàn tục, tổ chức sát hạch kinh giáo.
– Hồ Quý Ly soạn sách “Minh Đạo” gồm 14 thiên đưa ra những kiến giải xác đáng về Khổng Tử và những nghi vấn có căn cứ về sách “Luận ngữ”, một trong những tác phẩm kinh điển của nho giáo.
– Hồ Quý Ly dịch thiên “Vô dật” trong Kinh thư ra chữ Nôm để dạy vua và hoàng tử, hậu phi, con cái nhà quan, cung nữ; soạn sách Thi nghĩa (giải thích Kinh thi) bằng chữ Nôm; làm thơ Nôm.
– Đưa toán học vào đề thi.
– Đưa chữ Nôm vào dạy phổ thông (việc làm mà sau này chính Quang Trung, Nguyễn Trãi rất ủng hộ).
– Hồ Nguyên Trừng là ông tổ của thể loại hồi ký trong văn xuôi tự sự Việt Nam.
e) Về Quân Sự – Quốc Phòng
– Chấn chỉnh và tăng cường quân đội, loại người yếu, thêm người khỏe, kể cả sư tăng, tăng cường quân số và lực lượng quân sự địa phương.
– Cho xây dựng một kinh thành mới bằng đá kiên cố ở An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa)
– Cải tiến kỹ thuật quân sự. Hồ Nguyên Trừng (con trai cả Hồ Quý Ly) chế tạo: súng thần cơ (hoả pháo cải tiến), thuyền chiến Cổ Lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng)
– Lập hộ tịch, cứ 2 tuổi trở lên phải kê khai, ẩn náu phải phạt. Hộ tịch làm xong, số người từ 15 tuổi đến 60 hơn gấp mấy lần trước. Quân số tăng thêm.
– Chú trọng luyện tập thủy binh giữ mặt sông mặt biển. Ông cho đóng thuyền lớn có lát ván để đi lại dễ dàng, khoang dưới cho người chèo chống. Ở cửa bể và những nơi hiểm yếu trên sông lớn, ông cho đóng cọc, hình thành những trận địa mai phục quy mô.
– Về biên chế, ông chia Nam Bắc gồm 12 vệ, Đông Tây phân ra 8 vệ. Mỗi vệ có 18 đội, mỗi đội có 18 người. Đại quân có 30 đội, trung quân 20 đội, mỗi doanh có 15 đội, mỗi đoàn có 10 đội. Ngoài ra còn 5 đội cấm vệ quân. Tất cả do một Đại tướng thống lĩnh.
f) Về Hành Chính
– Đổi các lộ xa làm trấn, đặt thêm các chức An Phủ phó sứ, Trấn thủ phó sứ cùng các chức phó khác ở châu huyện. Ở lộ thì đặt những chức quan lớn như Đô hộ, Đô thống, Thái thú quản cả việc quân sự và dân sự. Đặt chức Liêm phóng sứ tại mỗi lộ dò xét tình hình quân dân.
g) Về Pháp Luật
– Cải tiến bộ luật hình sự.
h) Về Khoa Học – Kỹ Thuật
– Thời ấy chưa có công nghệ vận chuyển, các nhà khảo cổ học đã tìm được những viên đá tròn chứng minh Hồ Nguyên Trừng đã sử dụng kĩ thuật tời (ròng rọc) trong xây dựng hiện đại để vận chuyển đá xây dựng thành.
– Chế tạo ra súng thần cơ (Hoả pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng)
Nhìn vào những cải cách ta có thể thấy, nhà Hồ không được lòng dân không phải vì không nghĩ cho dân mà vì dân không hiểu những cải tổ của họ. Hồ Quý Ly thua không phải vì ông kém mà là vì tầm chính trị của ông đã vượt xa thời đại. Đây chẳng phải là tư duy của thế kỷ XIX, XX? Nó không rơi vào đúng thời để cuối cùng ông phải dùng cái sở đoản quân sự của mình để đi đánh quân Minh. Không một tướng tài nào chịu cùng ông bày mưu tính kế bởi họ coi ông là kẻ bạo chúa vô đạo đáng phải bị quy hàng.
P/s: Hoạn quan Nguyễn An – tổng công trình sư xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh là người sinh ra trong giai đoạn Hồ Quý Ly cải tổ. Nguyễn An cùng với Hồ Nguyên Trừng là hai nhân tài kĩ thuật đã mất của nhân dân ta.
