Thứ tư, ngày 31/12/2025 14:40 GMT+7
Tào Nga Thứ tư, ngày 31/12/2025 14:40 GMT+7
Giáo sư Dương Quảng Hàm sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, cụ nội là Dương Duy Thanh từng làm Đốc học Hà Nội, thân phụ là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc đều tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, 8 người con của ông đều học hành đỗ đạt, vươn lên trong nghiên cứu khoa học, trong đó ba người con của ông đã được phong chức danh Giáo sư.
Giáo sư Dương Quảng Hàm – người đặt nền móng cho văn học sử Việt Nam
Dương Quảng Hàm (1898–1946), hiệu Hải Lượng, quê làng Phú Thị, xã Mễ Sở nay thuộc tỉnh Hưng Yên, là một trong những học giả tiêu biểu đặt nền móng cho ngành nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Ông sinh ngày 14/7/1898 trong một gia đình có truyền thống nho học. Cụ nội ông là Dương Duy Thanh (1804–1861), từng giữ chức Đốc học Hà Nội. Thân phụ là Dương Trọng Phổ; anh ruột là Dương Bá Trạc – một trong những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục; em trai là Dương Tụ Quán. Các thành viên trong gia đình đều là những danh sĩ có uy tín trong đời sống học thuật đương thời.

Ngay từ nhỏ, Dương Quảng Hàm đã bộc lộ tư chất thông minh, ham học. Dù sớm chuyển sang Tây học, ông vẫn kịp tiếp thu vốn Hán học vững chắc từ gia đình – nền tảng quan trọng giúp ông trở thành một học giả uyên bác về sau.
Năm 1920, ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội với tiểu luận “Khổng Tử và học thuyết Khổng Mạnh trong nền giáo dục cũ”. Sau khi ra trường, ông giảng dạy tại Trường Bưởi (nay là Trường THPT Chu Văn An) và gắn bó với ngôi trường này cho đến ngày Toàn quốc kháng chiến (1946).
Ban đầu, ông dạy các môn sử – địa, tiếng Việt và tiếng Pháp bậc cao đẳng tiểu học. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được bổ nhiệm làm Thanh tra trung học, rồi Hiệu trưởng Trường Chu Văn An. Cùng nhiều trí thức cùng thời, Giáo sư Dương Quảng Hàm đã dành trọn tâm huyết để xây dựng nền giáo dục cách mạng, dân chủ, tiến bộ.
Là lớp Giáo sư đầu tiên được đào tạo bài bản theo hệ thống giáo dục hiện đại, đồng thời am hiểu sâu sắc cả Nho học lẫn Tân học, ông đã vận dụng phương pháp khoa học để nghiên cứu kho tàng văn học Việt Nam.
Trong hơn 20 năm (1920–1945), Dương Quảng Hàm vừa giảng dạy, vừa biên soạn sách giáo khoa cho các bậc học từ tiểu học đến trung học, bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến: Lecçons d’histoire d’An Nam (1927), Tập bài thi bằng sơ học yếu lược (1926, soạn cùng Dương Tụ Quán), Quốc văn trích diễm (1927), Việt văn giáo khoa thư (1940), Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942), cùng nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí Nam Phong, Hữu Thanh, Tri Tân, Văn học tạp chí… với các bút danh Hải Lượng, Uyên Toàn.
Trong số đó, hai công trình có giá trị học thuật nổi bật là Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển.
Việt Nam văn học sử yếu là cuốn văn học sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, gồm 48 chương, 11 thiên. Tuy được biên soạn làm giáo khoa thư cho học sinh trung học, tác phẩm có giá trị lớn về học thuật, tư tưởng, tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Cuốn sách vừa khẳng định giá trị của nền văn học dân tộc, vừa đặt nền móng cho bộ môn lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Dương Quảng Hàm là một trong những học giả đầu tiên phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển văn học như ngôn ngữ, văn tự, chế độ học tập – thi cử, ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và phương Tây. Nhiều thế hệ học sinh đã tiếp cận văn học dân tộc qua tác phẩm này, còn giới nghiên cứu coi đây là cuốn cẩm nang kinh điển. Tính đến nay, Việt Nam văn học sử yếu đã được tái bản hơn 10 lần.
Gia đình giỏi giang
Giáo sư Dương Quảng Hàm kết hôn với bà Trần Thị Vân – người phụ nữ hơn ông hai tuổi, xuất thân trong gia đình có học ở làng Phú Thị. Cuộc hôn nhân được sắp đặt theo phong tục truyền thống, nhưng tình nghĩa vợ chồng được bồi đắp bền chặt theo năm tháng.
Bà Trần Thị Vân thông minh, tháo vát, sớm bộc lộ năng khiếu kinh doanh. Sau khi chồng học xong và ra làm việc tại Hà Nội, bà mua nhà số 98B Hàng Bông, mở hiệu buôn Đông Phú, gánh vác toàn bộ kinh tế gia đình để chồng yên tâm giảng dạy, nghiên cứu.
Dù giữ nếp sống truyền thống trong sinh hoạt, bà Trần Thị Vân và Giáo sư Dương Quảng Hàm lại rất tiến bộ trong tư tưởng giáo dục. Cả tám người con đều được tạo điều kiện học tập bình đẳng, không phân biệt nam – nữ. Các con gái được cắt tóc ngắn, tham gia hoạt động cách mạng từ sớm – điều rất hiếm vào thời điểm trước năm 1945.

Gia đình Giáo sư Dương Quảng Hàm có nhiều cái “thứ nhất”: Khởi đầu là Giáo sư Dương Quảng Hàm, người viết tác phẩm “Việt Nam văn học sử yếu” được xem là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Con trai cả – Dương Bá Bành (SN 1920) là lớp bác sĩ y khoa đầu tiên tốt nghiệp Y khoa Đại học trong thời kỳ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh trao bằng tốt nghiệp.
Con gái thứ – Dương Thị Ngân (SN 1923) là phát thanh viên đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam, người đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người con thứ 3 – Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Dương Trọng Bái, nguyên Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội, là người biên soạn bộ sách giáo khoa Vật lý đầu tiên cho cấp PTTH. Người con thứ 4 – Giáo sư, tiến sĩ triết học, nguyên Viện trưởng Viện Triết học Dương Thị Thoa (tức Lê Thi, SN 1926), là người phụ nữ cứu quốc tiêu biểu được lên kéo cờ đỏ sao vàng trong ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945.
Người con thứ 6 – Dương Thị Duyên (SN 1929), nguyên Ủy viên Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là phóng viên nữ Việt Nam Thông tấn xã đầu tiên đi cùng phái đoàn Việt Nam tham gia đàm phán tại Hội nghị Paris. Người con thứ 7 – Giáo sư, bác sĩ Dương Thị Cương (SN 1932), nguyên Viện trưởng Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, Chủ nhiệm bộ môn Phụ sản – Đại học Y Hà Nội, Chủ tịch Hội Sản phụ khoa và Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, là người đầu tiên được giải thưởng Kovalevskaia năm 1999.
Sau Quốc khánh 2/9/1945, Giáo sư Dương Quảng Hàm được cử làm Tổng Thanh tra Trung học, Bộ Giáo dục. Ông hy sinh ngày 23/12/1946. Đến năm 2000, ông được truy điệu và công nhận là liệt sĩ.