Thứ sáu, ngày 02/01/2026 16:00 GMT+7
Thanh Hà Thứ sáu, ngày 02/01/2026 16:00 GMT+7
Giữa nhịp sống hối hả của một Hà Nội, có một chiếc xe đẩy nhỏ len lỏi khắp các con ngõ phố cổ, mang theo phong vị ngọt ngào của ba thập kỷ. Đó là gánh chè của cô Phùng Thu Phương – người đàn bà đã dùng cả thanh xuân để chưng cất nên những bát chè thơm nức vị “Tâm”.
Kỳ công từ hạt gạo, miếng sắn đến cân đường đỏ

Ít ai biết rằng, để có được những cốc chè bình dân giá 15 ngàn đồng, cô Phương đã bắt đầu một ngày làm việc từ khi cả con phố còn chìm trong giấc ngủ sâu. 4 giờ sáng mùa hè, ánh đèn bếp nhà cô đã thắp sáng. Cô tất bật đun nước đỗ đen rang giao sớm cho khách, rồi chuẩn bị cho những nồi chè buổi chiều.
Chia sẻ với PV Dân Việt, cô bảo, cô chẳng học ai, cứ đi ăn chỗ này một ít, chỗ kia một ít, thấy ngon là về tự mày mò, tự “rút kinh nghiệm” để tạo ra công thức của riêng mình và ẩm thực với cô là một “thánh đường” của sự sạch sẽ và kỹ tính.

Sự kỳ công của cô nằm ở những chi tiết mà ít ai để ý. Với chè bà cốt, cô tuyệt đối không nấu gạo trực tiếp trong nước đường vì hạt sẽ nát và vữa như cháo. Cô đồ gạo thành xôi trắng trước, từng hạt phải dẻo và ráo, sau đó mới cho vào nấu chè để hạt xôi ngấm đường mà vẫn giữ nguyên hình hài, bóng bẩy và dẻo quánh.
Để có bát chè bưởi “đúng điệu”, cô phải mua cùi bưởi khô về ngâm nở, cắt hạt lựu, bóp muối, luộc qua phèn chua rồi mới luộc, sau khi luộc xong sẽ vớt ra và ngâm với nước đá để cùi bưởi đạt độ giòn sần sật và đem ướp với đường thốt nốt. Tiếp đến là đồ đỗ xanh, đun nước đường sền sệt với bột năng rồi mới cho cùi bưởi và đỗ xanh vào trộn đều. Bên cạnh đó là từng viên trân châu dừa trắng muốt cũng phải do chính tay cô và con gái vê thủ công suốt hơn một tiếng đồng hồ mỗi mẻ.
Cô không bao giờ chấp nhận những nguyên liệu “hàng chợ” đại trà. Đường nấu chè khoai phải là loại đường hoa mai đỏ sẫm, đắt gấp rưỡi loại vàng nhạt thông thường, vì chỉ có nó mới tạo nên cái màu cánh gián sóng sánh và hương thơm nồng nàn đặc trưng.

Cô thẳng thắn: “Nhiều người tiết kiệm dùng đường vàng nhạt rồi cho nước hàng (nước màu) vào để tạo màu, nhưng vị nó sẽ hắc, không thể thơm tự nhiên được. Mình ăn thế nào thì khách ăn thế ấy, không thể làm dối được. Hồi mới làm trân châu, tôi đổ đi không biết bao nhiêu chậu bột mới rút ra được kinh nghiệm để hạt trân châu vừa dai vừa giòn”
Hỏi cô, vì sao cô lại chọn nghề ẩm thực mà không phải nghề khác cho đỡ vất vả. Cô Phương cho hay, cô thích nấu ăn từ nhỏ và muốn được vào bếp. Ngày mới lấy chồng cô cũng từng phụ chị chồng bán hàng ăn, một thời gian cô mới tách ra nấu và bán chè.
“Thời kỳ đầu tôi chỉ bán chè đỗ đen ở chợ Đồng Xuân, mà chưa có xe đẩy, cứ làm một thùng chè xách tay mang ra chợ. Nhưng rồi khách ăn tư vấn nên bán thêm nhiều món chè khác để khách có nhiều lựa chọn. Năm 2019, xách tay nhiều đau tay, tôi mới sắm chiếc xe đẩy và từ đó đi rong các con phố”, cô Phương cho biết.
20 năm chăm chồng trọng bệnh

Cô Phương cho biết, suốt 34 năm làm nghề, có đến 20 năm cô phải một mình chống chọi với nghịch cảnh để chăm sóc người chồng đau ốm liên miên.
Năm 2006 là một dấu mốc kinh hoàng mà cô không bao giờ quên: bố chồng nằm viện, anh chồng nằm viện, chồng cũng nằm viện, trong khi cô vừa mổ đẻ đứa thứ hai được đúng 7 tháng. Giữa lúc nhà cửa dột nát, tiền bạc cạn kiệt, cô Phương vẫn gượng dậy. Chồng cô bị bệnh tụy rồi sau phát hiện bị ung thư biến chứng sang tiểu đường, di căn sang gan, phổi, thực quản. Những năm tháng cuối đời của chú là những chuỗi ngày cô “nhẵn mặt” ở các bệnh viện Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Bạch Mai.
Cô trở thành một “y tá tay ngang” thạo việc đến mức các y tá cũng phải ngạc nhiên. Những tháng cuối của chú ở nhà, cô tự tay truyền đạm, tự tiêm morphine cho chồng để giảm bớt những cơn đau của căn bệnh ung thư giai đoạn cuối. Khi thực quản của chú bị khối u chèn ép không thể ăn uống, cô thức đêm hôm chăm sóc vết thương hạch di căn bị vỡ. Cô từng nói với chồng: “Nếu cứu được anh, kể cả phải bán nhà em cũng bán”, nhưng chú biết mình không qua khỏi nên đã ngăn lại. Suốt hai năm cuối đời của chồng, cô nghỉ hẳn gánh chè để ở bên chú từng phút từng giây, vẹn tròn đạo nghĩa vợ chồng.

“Bán hàng rong trên phố vất vả lắm, vào thời điểm thời tiết thuận thì không sao nhưng những ngày nắng như đổ lửa hay rét mướt buốt da buốt thịt tôi vẫn làm hàng và đi bán trên các con phố. Những lúc như thế tôi cũng thấy cực và nản, nhưng nghĩ vì chồng vì con mà tôi không làm thì lấy đâu ra tiền trang trải nên lại phải cố gắng, cũng có người bảo tôi đi làm thuê cho người ta cho nhàn cái thân nhưng tôi nghĩ mình đi làm thuê thì chồng con ở nhà không ai chăm sóc, thà tôi hy sinh bản thân mình, chọn làm hàng ăn ở nhà tuy vất vả hơn nhưng lại chủ động được thời gian để vừa đi bán hàng vừa trông nom được cả gia đình.
Gánh chè này đúng là nuôi cả gia đình nhưng nếu không có sự hỗ trợ của hai bên nội ngoại thì một mình tôi cũng không gánh vác nổi tiền thuốc thang hàng trăm triệu những lần chồng tôi đi viện. Tôi cũng may mắn khi được hai bên gia đình nội ngoại hỗ trợ. Khi chồng tôi mất vẫn còn nợ anh chị em nhưng sau đó được các bác cũng thương tình cho hết vì thấy tôi quá vất vả, cứ đi chợ được đồng nào là lại dành hết chăm chồng chăm con, có bao nhiêu tiền cũng đổ hết vào viện phí”, cô Phương rơm rớm nước mắt chia sẻ.
Sự tử tế không nằm ở giá tiền

Sau khi chú mất, cô Phương lại đẩy xe chè ra phố. Khách quen vẫn đó, tình yêu nghề vẫn nguyên vẹn. Dù giá khoai, giá sắn, giá đường lên vùn vụt, bát chè của cô vẫn chỉ loanh quanh mức 10 ngàn, 15 ngàn đồng. Cô không có khái niệm “chém chặt” khách lạ hay khách du lịch.
“Khách lạ hay khách quen đều bán đúng giá. Tôi bán hàng là để người ta còn quay lại, chứ ai lại bán một lần rồi thôi. Có những cụ già 80, 90 tuổi thèm chè nhưng không ăn được nhiều tôi bán cho cụ vài nghìn đồng gọi là, hoặc những người lao động nghèo, tôi biếu luôn. Từng sống qua thời kỳ khó khăn đến tận cùng, từng chăm người ốm 20 năm, tôi hiểu cái khổ nên cái tâm không cho phép làm khác”, cô tâm sự với đôi mắt rơm rớm khi nhắc về chuyện cũ.
Tiếng thơm vang xa, chè của cô Phương giờ đây còn theo chân những chuyến bay vào tận Sài Gòn. Những người con xa quê nhớ vị chè khoai, chè sắn bùi bùi, dẻo thơm đã đặt hàng trăm cốc. Cô lại tỉ mỉ nấu, để nguội, đóng hộp, quấn băng dính kỹ càng và gửi đi cả tấm lòng của người Hà Nội vào phương Nam nắng gió.

Hiện tại, hành trình bán chè rong của cô bắt đầu từ 10h sáng cho tới chiều trên những cung đường từ phố Gầm Cầu ra Nguyễn Thiệp, Hàng Khoai và phố Nguyễn Thiện Thuật.
Ở tuổi 56, không còn phải quá vất vả như 20 năm trước, cô không mong ước gì cho riêng bản thân, niềm vui giờ đây chỉ là thấy các con khôn lớn, con gái cả đã yên bề gia thất và đang làm tại một công ty du lịch, con gái út đang học đại học năm hai chịu khó học hành, cả hai đều rất thương và yêu mẹ.
Xe chè của cô Phùng Thu Phương không chỉ lưu giữ vị chè cổ truyền của đất Kinh kỳ, mà còn lưu giữ một giá trị cao đẹp hơn: đó là sự tử tế của con người với con người. Bát chè ấy có vị ngọt của đường, vị bùi của khoai, và trên hết là vị mặn mòi của những giọt nước mắt hy sinh, tạo nên một hương vị độc bản mà không một máy móc hay quy trình công nghiệp nào có thể thay thế được.
Giữa lòng phố cổ, xe chè của cô vẫn hằng ngày lặng lẽ đi qua, như một lời khẳng định rằng: những giá trị truyền thống và lòng nhân hậu sẽ luôn có một chỗ đứng vững chãi, ngọt ngào giữa dòng đời vạn biến.