Thứ sáu, ngày 30/01/2026 18:17 GMT+7
Diệu Linh Thứ sáu, ngày 30/01/2026 18:17 GMT+7
Bệnh do virus Nipah gây ra có các triệu chứng ở giai đoạn ban đầu khá tương đồng với bệnh do các virus cấp tính khác gây ra, rất khó phân biệt.
Tại buổi tọa đàm “Virus Nipah: Cảnh báo nguy cơ và giải pháp ứng phó y tế” do báo Dân Việt/Nông thôn Ngày Nay tổ chức ngày 30/1, bác sĩ Nguyễn Trung Cấp – Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương – nhận định rằng bệnh do virus Nipah là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, với các triệu chứng ở giai đoạn đầu khá tương đồng với nhiều bệnh nhiễm virus cấp tính khác.
Vì vậy, việc phân biệt bệnh do virus Nipah với các bệnh do những loại virus khác gây ra là rất khó khăn. Ở giai đoạn đầu, người nhiễm thường xuất hiện các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, mệt mỏi, đau họng, đau nhức cơ thể và đau các khớp.
Đây là những biểu hiện thường gặp khi nhiễm các loại virus khác như virus cúm hoặc virus hợp bào hô hấp (RSV). Chỉ đến giai đoạn muộn, khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng tổn thương não và phổi, mới có thể đặt ra nghi ngờ nhiễm bệnh do virus Nipah.

Theo bác sĩ Cấp, ở giai đoạn muộn, người mắc bệnh do virus Nipah có thể xuất hiện tổn thương phổi gây suy hô hấp; khi tổn thương não sẽ có các triệu chứng như đau đầu, nôn vọt, lơ mơ, hôn mê, co giật… Trường hợp tổn thương não quá nặng có thể dẫn đến tử vong.
Bác sĩ Cấp cho biết, trong giai đoạn 1998–1999, chùm ca bệnh do virus Nipah đầu tiên được ghi nhận tại Malaysia và Singapore, với tỷ lệ tử vong thấp và mới chỉ xác định lây truyền từ động vật sang người, nên khi đó các quốc gia chưa thực sự chú ý đến bệnh này.
Ở giai đoạn sau, khi xuất hiện các chùm ca bệnh tại Bangladesh và Ấn Độ, tỷ lệ tử vong đã tăng lên mức 40–75%, một con số rất đáng báo động. Đáng lo ngại hơn, gần đây còn ghi nhận các trường hợp lây nhiễm sang nhân viên y tế, làm dấy lên lo ngại virus đã có sự biến đổi và có khả năng lây truyền từ người sang người.
“Tuy nhiên, bệnh chủ yếu lây truyền qua các dịch tiết và hiện chưa ghi nhận khả năng lây truyền qua đường hô hấp. Với mức độ lây nhiễm như vậy, ở thời điểm hiện nay, chúng ta mới dừng lại ở mức cảnh giác đối với bệnh này, chứ chưa phải là cảnh báo khẩn cấp”, bác sĩ Cấp chia sẻ.
Theo bác sĩ Cấp, bệnh do virus Nipah không có những dấu hiệu lâm sàng đặc trưng riêng biệt. Việc chẩn đoán xác định đòi hỏi phải thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, không thể chỉ dựa vào các triệu chứng viêm đường hô hấp, tổn thương thần kinh hay tổn thương não để kết luận nguyên nhân là do virus Nipah.
Bác sĩ Cấp cho biết, hiện nay bệnh do virus Nipah chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Hai dạng tổn thương chính, nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong ở người bệnh là tổn thương phổi gây suy hô hấp và tổn thương não, khiến bệnh nhân rơi vào tình trạng hôn mê, co giật, nặng hơn là phù não và tử vong.
Tương tự như bệnh Covid-19 do virus corona, ở giai đoạn đầu cũng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, virus Nipah hay nhiều loại virus khác cũng như vậy. Vì thế, trước mắt, việc điều trị chủ yếu vẫn là điều trị theo các triệu chứng cấp tính.

“Các bác sĩ sẽ áp dụng các biện pháp hồi sức nhằm giúp bệnh nhân vượt qua giai đoạn bệnh cấp tính. Sau đó, khi cơ thể tự sinh kháng thể để tiêu diệt virus, người bệnh mới có cơ hội hồi phục. Việc chưa có thuốc điều trị đặc hiệu không có nghĩa là không điều trị gì; các bác sĩ sẽ làm mọi cách để duy trì sự sống cho bệnh nhân và chờ quá trình hồi phục”, bác sĩ Cấp khẳng định.
TS Vũ Ngọc Long – Trưởng phòng Phòng Kiểm soát bệnh truyền nhiễm (Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế) cũng cho biết, mặc dù nguồn lây bệnh do virus Nipah chủ yếu từ dơi mang virus và chưa dễ lây truyền từ người sang người, song chúng ta vẫn cần nâng cao cảnh giác.
Những người đến từ vùng dịch có thể nhập cảnh vào Việt Nam bất cứ thời điểm nào và có thể đang trong thời gian ủ bệnh, trong khi đó, dơi là loài động vật hoang dã có khả năng di chuyển từ vùng này sang vùng khác, rất khó kiểm soát. Vì vậy, cần tăng cường công tác giám sát cả trên người và trên động vật. Đây là nội dung đã được ngành y tế chỉ đạo, quán triệt, đồng thời ngành nông nghiệp cũng đã triển khai rất quyết liệt trong thời gian qua.
“Chúng ta cần hiểu rõ bản chất của bệnh để không quá lo lắng khi ứng phó với dịch. Qua trao đổi với các tổ chức quốc tế, đến thời điểm hiện nay mới chỉ ghi nhận ổ dịch tại một khu vực của Ấn Độ, trong khi các quốc gia khác trên thế giới chưa ghi nhận trường hợp nào.
Do đó, khi phát hiện người có các dấu hiệu mắc bệnh do virus, cần tiến hành khai thác và phân tích kỹ tiền sử dịch tễ, xem họ có từng đi về từ vùng dịch hay không, có tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc người đến từ vùng dịch hay không, nhằm phục vụ việc sàng lọc và loại trừ nguy cơ.
Nếu có lo lắng, người dân cần tham vấn ý kiến của cán bộ y tế, không nên tự suy diễn theo những thông tin không chính thống, tránh dẫn đến những hành động thái quá hoặc tâm lý chủ quan trong phòng, chống dịch bệnh”, ông Long khuyến cáo.